TaDung.org
Thiên nhiên và bảo tồn

Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Tà Đùng: vì sao nước hồ phải trả tiền cho rừng

Nhà máy thủy điện dùng nước từ rừng đầu nguồn nên phải trả tiền cho người giữ rừng. Cơ chế ấy vận hành thế nào ở vùng hồ Tà Đùng và cộng đồng nên hiểu gì.

Two forest patrol members seen from behind walking on a ridge path through tall trees, a large reservoir and a distant dam wall visible far below through gaps in the canopy

Chi trả dịch vụ môi trường rừng là cơ chế buộc những bên hưởng lợi từ rừng — trước hết là các nhà máy thủy điện, nhà máy nước, cơ sở công nghiệp dùng nước và cơ sở du lịch dựa vào cảnh quan rừng — trả tiền cho những người giữ rừng. Ở vùng hồ Tà Đùng, nhà máy thủy điện dùng nước từ lưu vực có rừng che phủ, nên một phần tiền điện được chuyển qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng về các chủ rừng và hộ dân, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng trong lưu vực.

Cơ chế này được thí điểm ở Lâm Đồng và Sơn La từ năm 2008, áp dụng toàn quốc theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, rồi được đưa vào Luật Lâm nghiệp 2017. Bài này giải thích vì sao một hồ nước lại "nợ" khu rừng quanh nó, đồng tiền đi theo đường nào, và điều đó có nghĩa gì với cư dân, người làm du lịch và cộng đồng người yêu Tà Đùng. Mức chi trả, định mức cụ thể thay đổi theo quy định và theo năm, nên bài không nêu con số.

Rừng làm gì cho hồ mà phải được trả tiền

Khi mưa rơi xuống một sườn đồi có rừng, tán lá cản bớt sức hạt mưa, lớp lá mục và rễ cây giữ đất, nước thấm dần vào lòng đất rồi rỉ ra suối trong nhiều tuần, nhiều tháng sau. Khi mưa rơi xuống đồi trọc, nước chảy tràn ngay trên mặt, cuốn đất đỏ xuống suối, suối dâng nhanh rồi cạn nhanh. Với một hồ thủy điện, sự khác biệt đó rất cụ thể: lưu vực có rừng cho dòng nước đều hơn, ít bùn đất hơn, hồ chậm bị bồi lắng, tuabin ít mài mòn, mùa khô vẫn còn nước để phát điện.

Những lợi ích ấy được gọi là dịch vụ môi trường rừng: điều tiết và duy trì nguồn nước, bảo vệ đất và hạn chế bồi lắng lòng hồ, cảnh quan cho du lịch, hấp thụ và lưu giữ các bon, nơi sinh sống của các loài. Trước đây chúng được coi là "miễn phí". Người giữ rừng chịu vất vả, chịu thiệt vì không được khai thác, trong khi người hưởng lợi ở hạ lưu không trả gì.

Ý tưởng của chi trả dịch vụ môi trường rừng là nối hai đầu đó lại: ai hưởng lợi thì trả, ai giữ rừng thì được nhận. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở châu Á đưa ý tưởng này thành chính sách quy mô quốc gia, và Lâm Đồng là một trong hai tỉnh thí điểm đầu tiên.

Đồng tiền đi theo đường nào

Đường đi của tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng có thể mô tả ở mức nguyên lý như sau. Chi tiết thủ tục, tỷ lệ trích, định mức theo các nghị định hướng dẫn Luật Lâm nghiệp và hướng dẫn của địa phương; nên kiểm văn bản hiện hành.

  1. Bên sử dụng dịch vụ trả tiền: nhà máy thủy điện trả theo sản lượng điện thương phẩm, nhà máy nước trả theo lượng nước sạch thương phẩm, cơ sở du lịch trả theo doanh thu từ hoạt động có sử dụng dịch vụ môi trường rừng, theo định mức do nhà nước quy định.
  2. Tiền vào quỹ: nộp về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng ở trung ương hoặc cấp tỉnh, tuỳ phạm vi lưu vực. Một nhà máy dùng nước từ lưu vực trải qua nhiều tỉnh thì quỹ trung ương điều phối.
  3. Quỹ xác định diện tích được chi trả: dựa trên bản đồ lưu vực, hiện trạng rừng và hệ số theo loại rừng, mức độ khó khăn.
  4. Tiền về chủ rừng: ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ, công ty lâm nghiệp, cộng đồng dân cư, hộ gia đình được giao rừng.
  5. Chủ rừng là tổ chức khoán lại cho hộ dân: ví dụ Ban quản lý Vườn quốc gia hoặc đơn vị lâm nghiệp ký hợp đồng khoán bảo vệ với hộ, nhóm hộ, cộng đồng thôn; hộ nhận khoán đi tuần, báo tin, nhận tiền theo diện tích và kết quả nghiệm thu.
  6. Nghiệm thu và công khai: diện tích rừng được kiểm tra; rừng bị mất, bị lấn chiếm thì phần chi trả bị điều chỉnh. Danh sách và mức chi trả thường phải công khai ở thôn, xã.

Từ 1/7/2025, sau sáp nhập tỉnh, Đắk Nông cũ nhập vào Lâm Đồng; cách tổ chức quỹ cấp tỉnh và đầu mối chi trả trên địa bàn Tà Đùng mới có thể thay đổi theo quyết định của tỉnh. Hộ nhận khoán nên hỏi chủ rừng hoặc chính quyền xã về đầu mối hiện hành.

Ở vùng hồ Tà Đùng, ai đang nhận và nhận vì việc gì

Vùng hồ Tà Đùng là ví dụ dễ hiểu của cơ chế này: phía trên là khối rừng đầu nguồn với Vườn quốc gia Tà Đùng và các khu rừng phòng hộ, rừng sản xuất; phía dưới là hồ thủy điện Đồng Nai 3 và chuỗi các nhà máy bậc thang trên sông Đồng Nai. Diện tích rừng nằm trong lưu vực cung cấp nước cho các nhà máy này thuộc diện được chi trả.

Người nhận cuối cùng ở cấp thôn thường là các hộ, nhóm hộ, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng, trong đó có nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống sát rừng. Việc của họ là đi tuần theo lịch, phát hiện và báo tin cháy rừng, khai thác trái phép, lấn chiếm; tham gia chữa cháy ban đầu khi được huy động; giữ cho diện tích được giao không bị mất. Tiền chi trả với nhiều hộ là một khoản thu nhập bổ sung đều đặn, dù thường không lớn.

Cơ chế này cũng tạo ra một mối liên kết hiếm có: lợi ích của người dân giữ rừng gắn trực tiếp với việc rừng còn nguyên. Mất rừng không chỉ là vi phạm pháp luật mà còn là mất một phần thu nhập của chính cộng đồng. Ở nhiều nơi, đó là lý do các tổ tuần tra cộng đồng hoạt động tích cực hơn.

Những điểm còn vướng mà cộng đồng nên biết

Mức chi trả trên mỗi héc-ta thường khiêm tốn. Ở nhiều lưu vực, số tiền mỗi hộ nhận được không đủ thay thế thu nhập từ một mảnh vườn. Vì thế chi trả dịch vụ môi trường rừng nên được nhìn như một phần trong sinh kế, không phải toàn bộ.

Thời điểm chi trả có khi chậm. Tiền đi qua nhiều khâu: bên sử dụng nộp, quỹ phân bổ, chủ rừng nghiệm thu rồi mới chi. Hộ nhận khoán nên được thông tin rõ lịch chi để không bị hụt hẫng.

Công khai, minh bạch là điều kiện để cơ chế được tin. Danh sách hộ, diện tích, số tiền nên được niêm yết ở thôn. Cộng đồng có quyền hỏi, góp ý qua họp thôn, qua chính quyền xã.

Người không có rừng giao không nhận được. Những hộ mới đến, hộ không nhận khoán sẽ không có phần. Đây là một trong những lý do có lúc nảy sinh so bì trong thôn, cần được giải thích rõ.

Rừng nghèo, rừng phục hồi cũng cần được quan tâm. Hệ số chi trả theo loại rừng và hiện trạng; những vạt rừng đang phục hồi có thể nhận ít hơn dù việc giữ chúng rất quan trọng để rừng lành lại.

Du lịch cũng là một bên hưởng lợi từ rừng

Ít người làm du lịch ở vùng hồ để ý rằng cảnh quan họ bán cho khách — mặt hồ xanh, những đảo phủ cây, mây vờn trên đỉnh núi — phần lớn là công của rừng. Luật Lâm nghiệp xếp dịch vụ cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học cho du lịch vào nhóm dịch vụ môi trường rừng, và các tổ chức kinh doanh du lịch có sử dụng dịch vụ này thuộc diện phải chi trả theo quy định. Phạm vi áp dụng cụ thể cho từng loại hình cơ sở, cách tính, nên hỏi cơ quan lâm nghiệp địa phương.

Bỏ qua chuyện nghĩa vụ, đây còn là chuyện tầm nhìn kinh doanh. Một cơ sở du lịch ven hồ mà để đồi phía sau trơ trụi, rác dạt đầy bờ thì sớm muộn sẽ mất khách. Những cơ sở biết góp phần giữ rừng — tham gia trồng lại cây bản địa, hỗ trợ tổ tuần tra, kể cho khách về người giữ rừng — đang đầu tư cho chính hàng hoá của mình.

Với du khách, hiểu cơ chế này giúp nhìn chuyến đi khác đi: tiền mình trả cho một đêm nghỉ ven hồ, theo cách gián tiếp, nên góp vào việc giữ khu rừng đã làm nên cảnh hồ đó. Chọn những nơi làm việc này nghiêm túc là một cách ủng hộ người giữ rừng.

Cộng đồng người yêu Tà Đùng nên nhìn chuyện này thế nào

Điều đầu tiên là tôn trọng người giữ rừng. Mỗi lần ngắm hồ, có thể nhớ rằng có những người đi tuần trong rừng mùa khô, thức đêm canh lửa, nhận một khoản tiền không lớn. Câu chuyện của họ đáng được kể với sự trân trọng, không biến thành hình ảnh minh hoạ cho bài đăng quảng cáo.

Điều thứ hai là đòi hỏi minh bạch một cách văn minh. Cộng đồng có thể quan tâm tới việc tiền chi trả có về đúng người, đúng lúc hay không, qua những kênh chính thức như họp thôn, hội đồng nhân dân, chính quyền xã, thay vì lan truyền nghi ngờ thiếu căn cứ trên mạng.

Điều thứ ba là không coi chi trả dịch vụ môi trường rừng là "đủ". Nó là một công cụ tốt, nhưng rừng còn cần người dân có sinh kế khác bền vững, cần du khách không mua lâm sản, cần thị trường không chấp nhận gỗ, thịt rừng trái phép. Cộng đồng có thể góp vào những vế còn lại.

Phân biệt cho đúng: tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng không phải là gì

Quanh chuyện tiền và rừng ở vùng hồ có nhiều khoản dễ bị lẫn với nhau. Hiểu đúng giúp cư dân biết hỏi đúng chỗ và cộng đồng không lan truyền thông tin sai.

  • Không phải tiền đền bù tái định cư thủy điện. Tiền bồi thường, hỗ trợ cho các hộ phải rời lòng hồ là chuyện của dự án thủy điện và chính quyền vào thời điểm làm hồ, theo chính sách riêng. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là khoản định kỳ cho việc giữ rừng, không liên quan tới việc có từng bị thu hồi đất hay không.
  • Không phải tiền hỗ trợ trồng rừng. Các chương trình hỗ trợ trồng rừng sản xuất, trồng rừng thay thế có nguồn và điều kiện riêng.
  • Không phải tiền thuế tài nguyên nước. Nhà máy thủy điện còn nộp các khoản thuế, phí khác cho nhà nước; đó là nghĩa vụ riêng, không đi thẳng về chủ rừng.
  • Không phải tiền bán tín chỉ các bon theo các thoả thuận quốc tế. Đây là cơ chế mới hơn, có quy định riêng; thông tin về nó cần lấy từ nguồn chính thức, tránh nghe theo lời mời chào "bán các bon cho rừng nhà mình".
  • Không phải tiền ai cũng được nhận. Chỉ chủ rừng và người nhận khoán hợp lệ trong lưu vực có bên sử dụng dịch vụ mới được chi trả.

Khi có người tự xưng đại diện chương trình nào đó tới thôn hứa chi tiền giữ rừng, thu phí đăng ký trước, cư dân nên hỏi lại chính quyền xã hoặc chủ rừng. Đây là kiểu lừa đảo từng xuất hiện ở nhiều vùng nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Chi trả dịch vụ môi trường rừng bắt đầu từ khi nào ở Việt Nam?

Cơ chế được thí điểm ở Lâm Đồng và Sơn La từ năm 2008, áp dụng trên toàn quốc theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, sau đó được quy định trong Luật Lâm nghiệp 2017 và các nghị định hướng dẫn. Chi tiết định mức và thủ tục nên tra văn bản hiện hành.

Nhà máy thủy điện trả tiền dịch vụ môi trường rừng như thế nào?

Nhà máy thủy điện trả theo sản lượng điện thương phẩm với mức do nhà nước quy định, nộp về quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Quỹ phân bổ cho chủ rừng trong lưu vực cung cấp nước, chủ rừng chi trả tiếp cho hộ, nhóm hộ, cộng đồng nhận khoán bảo vệ.

Hộ dân ở Tà Đùng muốn nhận khoán bảo vệ rừng thì làm sao?

Việc giao khoán do chủ rừng như ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ hay đơn vị lâm nghiệp thực hiện theo kế hoạch và diện tích có sẵn. Hộ dân nên hỏi trưởng thôn, chính quyền xã hoặc trực tiếp chủ rừng trên địa bàn về điều kiện và thời điểm nhận khoán.

Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng có đủ sống không?

Với phần lớn hộ, đây là thu nhập bổ sung chứ không thay được nguồn sống chính. Mức nhận phụ thuộc diện tích, loại rừng, lưu vực và định mức từng năm. Vì vậy hộ giữ rừng vẫn cần sinh kế khác như làm vườn, chăn nuôi, du lịch cộng đồng.

Cơ sở du lịch ven hồ Tà Đùng có phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng không?

Theo Luật Lâm nghiệp, tổ chức kinh doanh du lịch có sử dụng dịch vụ môi trường rừng thuộc diện chi trả. Phạm vi áp dụng cụ thể cho từng loại hình, cách tính và thủ tục nên hỏi cơ quan lâm nghiệp hoặc quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh.

Nếu rừng được khoán bị cháy hoặc bị phá thì sao?

Diện tích rừng bị mất hoặc suy thoái do vi phạm thường bị điều chỉnh, giảm hoặc không được chi trả theo kết quả nghiệm thu, tuỳ quy định và hợp đồng khoán. Đó là lý do hộ nhận khoán cần tuần tra, báo tin sớm và phối hợp chữa cháy ban đầu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83