Du lịch ở Tà Đùng giúp được rừng khi nó tạo ra sinh kế cho chính cư dân quanh hồ, khi một phần lợi ích quay lại cho việc giữ rừng và hồ, khi số khách và công trình còn trong sức chịu của vùng đất, và khi khách ra về hiểu và quý thiên nhiên hơn. Nó làm hại khi công trình mọc tràn lan sát mép nước, đồi bị san gạt, rác và nước thải vượt khả năng xử lý, lợi ích chảy hết ra ngoài, và rừng chỉ còn là phông nền chụp ảnh.
Luật Du lịch 2017 mô tả du lịch sinh thái là loại hình dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư và kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường. Bài này dùng định nghĩa đó như một thước đo để cộng đồng người yêu Tà Đùng — cư dân, người làm du lịch, du khách — nhìn thẳng vào chuyện du lịch vùng hồ đang đi về đâu.
Du lịch đã thay đổi vùng hồ thế nào
Khoảng mười năm trở lại đây, hồ Tà Đùng từ một vùng hồ thủy điện ít người biết trở thành điểm đến được nhiều người tìm, nhờ những tấm ảnh mặt hồ nhiều đảo lan trên mạng xã hội. Kéo theo là đường đi lại được cải thiện, homestay, khu nghỉ, quán cà phê ven hồ mọc lên, nghề chở thuyền, dẫn khách xuất hiện, đất đai quanh hồ được quan tâm hơn hẳn.
Mặt tích cực là rõ: nhiều hộ dân có thêm nguồn thu ngoài cà phê, hồ tiêu; người trẻ có lý do ở lại quê; vùng đất được biết tới, có thêm nguồn lực cho hạ tầng. Mặt đáng lo cũng rõ không kém: công trình xây trên đồi sát hồ, san gạt làm đất trôi, rác ở các điểm cắm trại, lượng khách dồn vào cuối tuần và lễ Tết vượt quá khả năng phục vụ của một xã vùng xa.
Câu hỏi không phải là có nên làm du lịch hay không — du lịch đã ở đây và đem lại sinh kế thật. Câu hỏi là làm thế nào để du lịch giữ được chính cái vốn của nó: rừng xanh, hồ trong, văn hoá bản địa và sự yên bình mà khách tìm tới.
Du lịch sinh thái thật và du lịch dán nhãn sinh thái
Chữ "sinh thái" được dùng rất rộng trong quảng cáo. Bảng sau giúp phân biệt ở mức thực tế, dựa trên các tiêu chí của định nghĩa trong Luật Du lịch và các nguyên tắc du lịch bền vững phổ biến.
| Tiêu chí | Gần với sinh thái thật | Chỉ dán nhãn |
|---|---|---|
| Dựa vào thiên nhiên | Giữ cây, giữ địa hình, công trình hoà vào cảnh | San gạt đồi, chặt cây lấy "view", bê tông hoá mép hồ |
| Cộng đồng tham gia | Người địa phương làm chủ, làm việc, cung cấp thực phẩm, dẫn đường | Chủ và lao động từ nơi khác, người địa phương chỉ bán đất |
| Bản sắc văn hoá | Món ăn, nghề, câu chuyện địa phương được giới thiệu tôn trọng | Văn hoá thành màn trình diễn dàn dựng, trang phục thuê |
| Giáo dục môi trường | Khách được biết về rừng, hồ, người giữ rừng, cách cư xử | Chỉ có góc chụp ảnh, không có thông tin gì |
| Rác và nước thải | Có phân loại, thu gom, bể xử lý; hạn chế đồ một lần | Đốt rác sau nhà, xả thẳng xuống hồ |
| Quy mô | Số phòng, số khách vừa với hạ tầng xã | Càng đông càng tốt, xây thêm liên tục |
Ít cơ sở nào đạt đủ mọi tiêu chí. Bảng không dùng để chấm điểm hay bêu tên ai, mà để khách và chủ cơ sở cùng thấy hướng nên đi.
Những cách du lịch có thể giúp rừng Tà Đùng
Sinh kế thay thế cho khai thác rừng. Khi một hộ ven rừng có thu nhập ổn định từ đón khách, chở thuyền, bán nông sản cho khách, áp lực phải vào rừng lấy gỗ, săn bẫy giảm đi. Đây là lý lẽ chính của du lịch sinh thái ở khắp nơi trên thế giới.
Nguồn tài chính cho giữ rừng. Các tổ chức kinh doanh du lịch có sử dụng dịch vụ môi trường rừng thuộc diện chi trả theo Luật Lâm nghiệp; ngoài nghĩa vụ ấy, nhiều cơ sở tự nguyện góp cho trồng cây, dọn rác, hỗ trợ tổ tuần tra.
Thêm "mắt nhìn" cho rừng. Người dẫn đường, người lái thuyền đi lại thường xuyên trên hồ và ven rừng, là những người có thể phát hiện và báo tin cháy rừng, khai thác trái phép sớm.
Giáo dục khách. Khách hiểu về rừng đầu nguồn, về người giữ rừng, về vì sao không ăn thịt rừng sẽ mang những hiểu biết ấy về thành phố, thay đổi thói quen tiêu dùng ở nơi khác.
Tiếng nói cho bảo tồn. Khi du lịch là sinh kế của nhiều người, cộng đồng có thêm động lực để lên tiếng khi rừng, hồ bị xâm hại, vì đó là "nồi cơm" chung.
Những dấu hiệu du lịch đang làm hại
Không phải tác hại nào cũng nhìn thấy ngay. Có những dấu hiệu cộng đồng nên để ý và lên tiếng sớm qua kênh chính thức, trước khi chúng thành vấn đề khó gỡ.
- Đồi bị san gạt, cây bị chặt để mở "view hồ", đất đỏ trơ ra trước mùa mưa.
- Công trình xây sát mép nước, lấn xuống vùng bán ngập hoặc vào phần đất không được phép xây.
- Rác ở điểm cắm trại, bến thuyền tăng dần qua các mùa, không ai thu gom.
- Ca nô, thuyền máy chạy tốc độ cao sát bờ, sát các nhánh hồ yên tĩnh, gây sóng xói bờ và làm chim nước bỏ đi.
- Đèn, loa, tiệc tùng ban đêm ở ven rừng, trên đảo.
- Khách tự vào rừng đặc dụng không phép, mở lối mòn mới.
- Nước sinh hoạt khan hiếm vào mùa khô ở những thôn có nhiều cơ sở lưu trú.
- Người địa phương thành người làm thuê trên chính mảnh đất từng là của mình, lợi ích du lịch chảy chủ yếu ra ngoài.
Những dấu hiệu này không phải lỗi riêng của ai, mà là hệ quả chung của tăng trưởng nhanh khi quy hoạch, quản lý chưa theo kịp. Cộng đồng góp ý qua họp thôn, qua chính quyền xã, với thái độ xây dựng, là cách tốt nhất để điều chỉnh.
Sức chứa: câu hỏi ít ai muốn hỏi
Mỗi vùng đất có một giới hạn về số khách nó chịu được mà không xuống cấp — gọi là sức chứa. Giới hạn ấy không chỉ là số phòng, mà là lượng nước sạch có thể cung cấp, lượng rác có thể thu gom, sức chịu của đường sá, của bờ hồ, và cả sức chịu đựng của cư dân trước sự ồn ào. Vượt sức chứa, trải nghiệm của khách xấu đi trước, rồi tới môi trường, rồi tới đời sống người dân.
Ở vùng hồ Tà Đùng, chưa có nghiên cứu sức chứa được công bố rộng rãi cho cộng đồng. Nhưng những dấu hiệu như kẹt xe trên đường đất vào các bến cuối tuần, rác tràn ở điểm cắm trại sau lễ, thiếu nước mùa khô ở một số nơi cho thấy câu hỏi này cần được đặt ra. Câu trả lời thuộc về quy hoạch của chính quyền, nhưng cộng đồng có thể góp tiếng nói.
Du khách cũng góp phần bằng lựa chọn của mình: đi vào ngày thường thay vì dồn vào dịp lễ, ở lâu hơn thay vì đi về trong ngày, chọn nhóm nhỏ thay vì đoàn đông. Một chuyến đi chậm và ít người thường đem lại trải nghiệm tốt hơn cho khách, ít áp lực hơn cho vùng đất, và nhiều thu nhập hơn cho người địa phương trên mỗi lượt khách.
Du lịch trong và quanh Vườn quốc gia
Theo Luật Lâm nghiệp 2017, rừng đặc dụng có thể tổ chức du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, nhưng phải theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong những phân khu và giới hạn cho phép; phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có quy định chặt hơn nhiều. Điều đó có nghĩa là không phải chỗ nào trong Vườn quốc gia Tà Đùng khách cũng được tự do vào, và không phải ai cũng được tự ý đưa khách vào rừng.
Khách muốn đi bộ trong rừng, leo núi Tà Đùng hay khám phá các khu rừng già nên hỏi trước Ban quản lý Vườn quốc gia về các tuyến, thủ tục và người dẫn đường được phép. Cơ sở du lịch giới thiệu "tour vào rừng nguyên sinh" mà không nói rõ đã có phép hay chưa là điều nên hỏi lại.
Đổi lại, những tuyến được tổ chức đúng cách thường an toàn hơn, có người dẫn hiểu rừng, kể được về cây cỏ, chim muông, và một phần phí tham quan có thể góp vào công tác bảo tồn. Đó là kiểu du lịch giúp rừng thay vì lấy từ rừng.
Người làm du lịch ở Tà Đùng có thể bắt đầu từ đâu
Với chủ homestay, quán ven hồ, người chở thuyền, người dẫn đường, chuyển dần sang cách làm bền vững không cần đầu tư lớn ngay. Có thể đi từng bước như sau, tuỳ điều kiện của mỗi cơ sở.
- Giữ lại những gì đang có: cây lớn, mặt đất có cỏ, đường tự nhiên của nước. Mỗi cây giữ lại là một phần cảnh quan khách tìm tới, và một phần đất không trôi xuống hồ.
- Lo rác và nước thải trước khi lo trang trí: thùng phân loại, lịch chở rác ra điểm tập kết, bể tự hoại đúng kỹ thuật, không xả thẳng xuống hồ.
- Bỏ dần đồ dùng một lần: nước uống rót từ bình lớn, cốc thuỷ tinh, đồ dùng phòng tắm loại đổ lại.
- Dùng người và hàng của vùng: thuê lao động trong thôn, mua rau, cá, gà, cà phê của các hộ quanh hồ, giới thiệu món địa phương cho khách.
- Nói với khách về rừng và hồ: vài dòng nội quy về rác, tiếng ồn, flycam, thịt rừng; một câu chuyện về người giữ rừng, về nguồn gốc hồ. Khách thường đón nhận tốt khi được nói từ đầu.
- Đặt giới hạn cho mình: không nhận quá số khách nơi ở phục vụ được, không mở rộng thêm phòng khi nước, rác chưa lo xong.
- Liên kết với nhau: các cơ sở trong cùng thôn cùng thuê xe chở rác, cùng thống nhất không bán thịt rừng, cùng góp cho một đợt trồng cây — sức của một nhà thì nhỏ, của cả thôn thì lớn.
Những bước này không đòi hỏi chứng nhận hay danh hiệu nào. Khách tinh ý nhận ra rất nhanh cơ sở nào làm thật, và chính họ sẽ là những người giới thiệu thêm khách mới.
Câu hỏi thường gặp
Du lịch sinh thái là gì theo luật Việt Nam?
Luật Du lịch 2017 mô tả du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư và kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường. Chi tiết nên tra văn bản luật hiện hành.
Làm sao biết một homestay ở Tà Đùng có thật sự sinh thái?
Xem công trình có giữ cây, giữ địa hình hay san gạt đồi; có thu gom, phân loại rác và xử lý nước thải không; người địa phương có làm chủ hoặc làm việc ở đó không; món ăn có dùng nông sản địa phương không; khách có được giới thiệu về rừng, hồ và cách cư xử không.
Du lịch có làm hại rừng Tà Đùng không?
Có thể, khi công trình mọc sát mép nước, đồi bị san gạt, rác và nước thải vượt khả năng xử lý, khách tự ý vào rừng đặc dụng. Nhưng du lịch làm đúng cách cũng tạo sinh kế thay cho khai thác rừng và nguồn lực cho giữ rừng. Kết quả phụ thuộc vào cách làm.
Có được tự đi vào Vườn quốc gia Tà Đùng không?
Không nên tự ý vào. Hoạt động du lịch trong rừng đặc dụng phải theo đề án được duyệt, trong các phân khu và tuyến cho phép. Khách nên liên hệ Ban quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng để biết tuyến, thủ tục và người dẫn đường được phép trước khi đi.
Du khách nên làm gì để chuyến đi Tà Đùng có lợi cho vùng đất?
Đi vào ngày thường, ở lâu hơn, đi nhóm nhỏ; chọn cơ sở có người địa phương làm chủ và có xử lý rác, nước thải; ăn món và mua nông sản địa phương; mang rác về; không ăn thịt rừng; không tự vào rừng đặc dụng; giữ yên lặng ở ven rừng và trên hồ.
Sức chứa du lịch là gì và vì sao quan trọng với Tà Đùng?
Sức chứa là số khách một vùng chịu được mà không làm môi trường, trải nghiệm và đời sống cư dân xuống cấp, phụ thuộc nước sạch, rác, đường sá, bờ hồ. Vùng hồ Tà Đùng là xã vùng xa, hạ tầng có hạn, nên lượng khách dồn vào dịp lễ dễ vượt sức chứa.