Trước khi hồ Tà Đùng tích nước vào khoảng đầu những năm 2010, vùng Đắk Som và Đắk R'Măng là một miền thung lũng sông Đồng Nai thượng nguồn: sông chảy xiết giữa hai sườn núi, suối nhánh đổ xuống từ rừng, người dân làm rẫy trên sườn đồi, đi lại bằng đường đất và lối mòn. Đó là một vùng xa, thưa người, sống chủ yếu bằng nông nghiệp nương rẫy, với đồng bào bản địa M'Nông, Mạ và những lớp người đến lập nghiệp từ nhiều nơi.
Bài này dựng lại bức tranh chung của vùng đất trước khi có hồ, ở mức nói chắc được: địa hình, cách người ta sống, cách người ta đi lại, những gì mất đi khi nước dâng, và cách đọc phong cảnh hôm nay để thấy lại vùng đất cũ. Những chi tiết riêng của từng thôn, từng gia đình chỉ người trong cuộc mới kể được; trang này không bịa tên người hay trích lời như phỏng vấn, mà để chỗ cho những câu chuyện thật được gửi về cộng đồng.
Một thung lũng sông giữa núi
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng cao nguyên Lâm Viên ở Lâm Đồng, chảy về phía tây nam rồi vòng xuống Đông Nam Bộ. Đoạn chảy qua vùng giáp ranh Đắk Nông cũ và Lâm Đồng cũ là đoạn thượng nguồn, lòng sông hẹp, nhiều ghềnh, hai bên là đồi núi dốc. Vùng Đắk Som, Đắk R'Măng nằm ở phía bờ Đắk Nông cũ, sau lưng là khối núi Tà Đùng gần 2.000 m, ngọn núi cao nhất của tỉnh Đắk Nông cũ.
Địa hình như vậy quyết định gần như mọi thứ của đời sống trước khi có hồ. Đất bằng hiếm, chỉ có những dải bãi bồi hẹp ven sông và ven suối. Phần lớn đất canh tác là sườn đồi, càng lên cao càng dốc. Rừng phủ các đỉnh núi và các khe sâu, nơi suối giữ nước quanh năm. Mùa mưa, sông suối lên nhanh và đục; mùa khô, nước rút trong, lộ ra những bãi đá và bãi cát.
Chữ "Đắk" trong tên hai xã cũ là từ chỉ nước, sông suối trong tiếng của nhiều dân tộc bản địa Tây Nguyên, gặp rất nhiều trong địa danh của vùng: Đắk Lắk, Đắk Nông, Đắk Mil, Đắk Song. Tên gọi ấy nhắc rằng từ trước khi có hồ, đời sống nơi đây đã xoay quanh nước, chỉ là nước của những dòng suối chứ chưa phải một mặt hồ rộng.
Những người sống ở thung lũng
Lớp cư dân lâu đời nhất của vùng là đồng bào bản địa, trong đó có người M'Nông và người Mạ. Họ sống theo bon, làm rẫy luân canh, săn bắt và hái lượm trong rừng, gắn đời sống với các con suối và với lịch mùa rẫy. Nếp nhà, lễ hội, luật tục của họ là phần nền văn hoá của vùng, được kể kỹ hơn ở danh mục đồng bào và văn hoá bản địa của trang.
Sau năm 1975, nhất là từ thập niên 1990, Tây Nguyên đón nhiều đợt người đến lập nghiệp: người Kinh từ miền Trung, miền Bắc, và đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc như Tày, Nùng, Dao, Mông. Vùng đất xa như Đắk Som, Đắk R'Măng cũng có những lớp người như vậy, đến dựng nhà, khai rẫy, trồng cà phê khi giá cà phê kéo người lên cao nguyên. Không có con số chính thức chia dân theo quê gốc mà trang này dám dẫn, nên chỉ nói được rằng vùng đất là nơi gom người từ nhiều miền.
Mật độ dân cư khi ấy thưa. Các xóm thường nằm dọc đường đất, dọc suối hoặc trên những khoảnh đất tương đối bằng. Từ xóm này sang xóm khác có khi phải qua dốc, qua suối. Trường học, trạm y tế, chợ đều ít và xa. Cuộc sống nhiều vất vả, nhưng cũng là thứ đời sống mà những người lớn tuổi bây giờ nhớ lại như tuổi trẻ của mình, với những con suối tắm mát, những mùa rẫy cả xóm đổi công cho nhau.
Rẫy, suối và rừng: sinh kế trước khi có mặt hồ
Rẫy lúa, rẫy bắp. Lúa rẫy và bắp là cây lương thực chính của nhiều hộ, nhất là hộ đồng bào bản địa. Rẫy được phát trên sườn đồi, trồng một vài vụ rồi để đất nghỉ, theo nếp luân canh có từ lâu đời. Khi đất ngày càng chật và rừng được khoanh giữ, nếp này thu hẹp dần.
Cà phê và cây công nghiệp. Từ khi người lập nghiệp đến đông hơn, cà phê và về sau là hồ tiêu phủ dần các sườn đồi thấp. Cây cà phê cần nước tưới mùa khô, nên vườn thường gần suối hoặc có ao, giếng. Phần đất ven sông cũ, nay nằm dưới mặt hồ, từng có những vườn như vậy.
Suối và sông. Đánh bắt cá, tôm, ốc trên sông suối là nguồn thức ăn hằng ngày, không phải nghề buôn bán lớn. Bãi bồi ven sông được trồng hoa màu ngắn ngày vào mùa khô. Sông vừa là nguồn sống vừa là trở ngại: muốn sang bờ bên kia phải chờ nước cạn hoặc đi bè, đi thuyền nhỏ.
Rừng. Rừng cho măng, rau, củi, mật ong, cây thuốc và gỗ làm nhà, theo nếp khai thác của từng thời. Khi rừng Tà Đùng được đưa vào diện bảo tồn, việc vào rừng bị giới hạn, và quan hệ giữa người với rừng chuyển sang nhận khoán bảo vệ, tuần tra.
Chăn nuôi nhỏ. Gà, heo, trâu bò thả quanh nhà và quanh rẫy là tài sản tích luỹ của nhiều hộ, dùng cho lễ, cho việc lớn trong nhà hay bán khi cần tiền. Bãi cỏ ven sông và đồi trọc là chỗ chăn thả quen thuộc.
Đổi công và chợ phiên. Thiếu tiền mặt, nhiều việc như phát rẫy, tỉa lúa, hái cà phê được làm bằng đổi công giữa các nhà. Hàng hoá thiết yếu mua ở những điểm chợ, tiệm tạp hoá dọc đường lớn hoặc khi ra trung tâm huyện.
Đi lại trước khi có hồ: đường đất, dốc và suối
Với người ở vùng sâu như Đắk Som, Đắk R'Măng, đi lại trước đây là chuyện của đường đất đỏ, dốc và suối. Mùa khô bụi mù, mùa mưa lầy trơn, có đoạn xe máy phải quấn xích bánh hoặc dắt bộ. Những con suối không có cầu thì mùa mưa phải chờ nước rút mới qua được. Đường ra quốc lộ 28, trục nối Gia Nghĩa với Di Linh qua vùng Đắk Glong, là con đường quan trọng nhất để đưa nông sản ra và đưa hàng hoá vào.
Khi các công trình thủy điện được triển khai, đường thi công được mở vào sâu hơn, phục vụ chở vật liệu, máy móc. Nhiều đoạn đường công vụ ấy về sau trở thành đường dân sinh, rút ngắn thời gian đi lại cho các xóm. Đây là một trong những thay đổi mà người trong vùng nhắc tới khi so trước và sau, bên cạnh phần mất mát.
Trong ký ức chung của nhiều vùng hồ chứa, có một nghịch lý: trước khi có hồ, sông chia cắt hai bờ, sang sông là chuyện khó; sau khi có hồ, mặt nước rộng hơn nhiều nhưng thuyền lại trở thành phương tiện nối các bờ, các đảo. Chuyện đi lại trên mặt hồ hôm nay được kể ở bài về những thay đổi sau khi có hồ.
Nước dâng: những gì mất đi, những gì còn lại
Khi hồ tích nước, phần thấp nhất của vùng đất biến mất trước: bãi bồi ven sông, những vườn và rẫy gần nước, những đoạn đường men theo sông, những bến lội quen thuộc. Đây lại thường là phần đất tốt nhất, bằng nhất và gần nước nhất, nơi người ta ở lâu và trồng cấy nhiều. Những hộ có nhà và đất trong vùng ngập phải chuyển đi theo phương án tái định cư; câu chuyện của họ được kể ở bài riêng.
Những gì còn lại là sườn đồi cao, các đỉnh đồi nay thành đảo, rừng trên núi và các xóm nằm trên cao trình an toàn. Người ở lại nhìn thấy cảnh quan quanh nhà mình đổi hẳn: con sông quen thuộc thành mặt hồ, quả đồi rẫy bên kia suối thành hòn đảo phải đi thuyền mới tới. Một số mảnh rẫy trên đảo vẫn được chủ cũ chèo thuyền ra chăm sóc một thời gian.
Có những mất mát không đo được bằng diện tích: chỗ tắm suối của bọn trẻ, gốc cây lớn làm mốc đường, bãi đất từng tổ chức lễ của bon, tên gọi của từng khúc sông. Những thứ ấy không có trong biên bản kiểm đếm nào, chỉ còn trong trí nhớ của người từng sống ở đó.
Đọc phong cảnh hôm nay để thấy vùng đất cũ
Đảo là đỉnh đồi cũ. Khi đứng trên thuyền giữa hồ, hãy tưởng tượng mặt nước hạ xuống vài chục mét: các đảo sẽ nối lại thành những dãy đồi, giữa chúng là thung lũng. Đó gần với hình dạng vùng đất trước khi có hồ.
Vịnh hẹp là suối cũ. Những nhánh hồ dài, hẹp ăn sâu vào bờ thường là thung lũng của các suối nhánh. Ở đầu vịnh, nơi nước nông dần, đôi khi còn nghe tiếng suối đổ vào hồ.
Đường đất lặn xuống nước. Những con đường đất đột ngột dẫn xuống mặt hồ, nhất là vào mùa nước thấp, có thể là đoạn đường cũ từng đi tiếp xuống thung lũng. Đó là dấu vết dễ thấy nhất của mạng lối đi trước khi có hồ.
Dải bờ trơ mùa khô. Vành đất lộ ra khi nước rút cho thấy phần đất từng là sườn đồi trồng trọt. Có chỗ còn gốc cây, bờ đá kè thô của vườn cũ.
Rừng trên cao. Những khoảng rừng trên các đỉnh núi quanh hồ là phần cảnh quan ít thay đổi nhất so với trước; chúng là cái nền mà người lớn tuổi dùng để định hướng khi kể về vùng đất cũ.
Vì sao nên biết chuyện "trước khi có hồ"
Một cộng đồng người yêu Tà Đùng mà chỉ biết vùng đất này từ lúc nó đẹp trên ảnh thì sẽ thiếu mất một nửa câu chuyện. Biết vùng đất từng là thung lũng có người ở giúp khách đến thăm cư xử tế nhị hơn với người địa phương, nhất là với những gia đình từng phải rời đi. Nó cũng giúp người mới đến ở lâu hiểu vì sao có những tranh chấp đất ven hồ, những nỗi lo mùa mưa, những thói quen tưởng như kỳ lạ của láng giềng.
Với thế hệ trẻ sinh ra sau khi có hồ, đây là lịch sử của chính gia đình mình. Một đứa trẻ lớn lên bên mặt hồ có thể không biết ông bà từng làm rẫy ở chỗ bây giờ thuyền chạy qua. Kể cho các em nghe là cách giữ sợi dây giữa các thế hệ, và cũng là cách để các em yêu vùng đất bằng hiểu biết chứ không chỉ bằng phong cảnh.
Nếu gia đình bạn có ảnh cũ chụp vùng thung lũng trước khi tích nước, có giấy tờ, có câu chuyện về những năm ấy, đó là tư liệu quý cho cả cộng đồng. Cách ghi lại và chia sẻ sao cho tôn trọng người trong cuộc được bàn kỹ ở bài hướng dẫn ghi ký ức vùng hồ trong cùng danh mục này.
Câu hỏi thường gặp
Trước khi có hồ, vùng Tà Đùng trông như thế nào?
Đó là vùng thung lũng sông Đồng Nai thượng nguồn: sông hẹp, nhiều ghềnh, hai bên đồi núi dốc, có suối nhánh từ rừng đổ xuống. Đất bằng ít, chủ yếu là bãi bồi ven sông. Người dân làm rẫy trên sườn đồi, trồng cà phê, đánh bắt trên sông suối và đi lại bằng đường đất.
Đắk Som và Đắk R'Măng nay thuộc đâu?
Từ ngày 1/7/2025, hai xã Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong cũ, tỉnh Đắk Nông cũ hợp thành xã Tà Đùng thuộc tỉnh Lâm Đồng. Tên hai xã cũ vẫn còn trên nhiều giấy tờ cấp trước thời điểm đó và vẫn được người dân dùng để gọi vùng mình.
Chữ Đắk trong tên Đắk Som nghĩa là gì?
Đắk là từ chỉ nước, sông suối trong tiếng của nhiều dân tộc bản địa Tây Nguyên, nên xuất hiện trong rất nhiều địa danh như Đắk Lắk, Đắk Nông, Đắk Mil. Nghĩa của phần còn lại trong tên Đắk Som, Đắk R'Măng thì trang này chưa tìm được nguồn đủ chắc để giải thích.
Người dân trong vùng ngập đã đi đâu?
Các hộ có nhà và đất trong vùng ngập được kiểm đếm, bồi thường và chuyển tới nơi ở mới theo phương án tái định cư của công trình thủy điện. Có hộ ở lại trong vùng trên cao trình an toàn, có hộ chuyển đi xa hơn. Chi tiết từng khu tái định cư nên hỏi chính quyền xã hoặc người trong cuộc.
Có còn dấu vết nào của vùng đất cũ không?
Có, nếu biết nhìn. Đảo là đỉnh đồi cũ, vịnh hẹp là thung lũng suối cũ, những con đường đất lặn xuống nước là đoạn đường cũ, và mùa nước thấp lộ ra dải bờ từng là sườn đồi trồng trọt. Rừng trên các đỉnh núi là phần cảnh quan ít đổi nhất.
Có ảnh cũ của vùng thung lũng trước khi tích nước không?
Ảnh cũ chủ yếu nằm trong album gia đình của người địa phương, cán bộ từng công tác trong vùng và người làm công trình. Nếu bạn có những tấm ảnh như vậy, hãy giữ bản gốc, số hoá, ghi chú thời gian và địa điểm, rồi cân nhắc chia sẻ với cộng đồng khi người trong ảnh đồng ý.