Người dân Tà Đùng không phải một cộng đồng đồng nhất mà là nhiều lớp cư dân chồng lên nhau: đồng bào bản địa M'Nông, Mạ sống ở vùng này từ lâu đời; đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng từ các tỉnh phía Bắc vào lập nghiệp, đông nhất từ khoảng thập niên 1990; người Kinh từ nhiều miền lên làm rẫy, buôn bán; các hộ phải dời chỗ ở khi hồ thủy điện Đồng Nai 3 tích nước; và gần đây là lớp người trẻ làm du lịch cùng người thành phố lên ở lâu. Tất cả hiện là cư dân của xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng, xã mới lập từ ngày 1/7/2025 trên địa bàn hai xã cũ Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Hiểu được các lớp cư dân này giúp người từ nơi khác đến nhìn Tà Đùng đúng hơn: không coi mọi người dân là "người bản địa", không nghĩ ai cũng sống bằng du lịch, và biết rằng cùng một con dốc có thể có ba bốn nếp sống khác nhau. Bài viết đi qua từng lớp người, họ đến khi nào, sống bằng gì, gặp nhau ở đâu, và những hiểu lầm hay gặp khi người ngoài nói về "người Tà Đùng". Tỷ lệ dân số từng nhóm không được nêu ở đây vì không có số liệu công bố đủ tin cậy cho xã mới.
Đồng bào bản địa: những người đặt tên cho núi và suối
Trước khi có đường nhựa, có hồ và có khách, vùng đồi núi giữa thượng nguồn sông Đồng Nai đã là nơi sinh sống của người M'Nông và người Mạ. Nhiều địa danh quanh đây mang dấu tiếng nói của họ: chữ "Đắk" trong Đắk Som, Đắk R'Măng là nước, là suối; chính cái tên Tà Đùng là tên một ngọn núi. Người bản địa sống theo bon, mỗi bon là một cộng đồng gắn với một vùng đất, một nguồn nước, có già làng và những người có uy tín giữ nếp chung.
Đời sống của đồng bào bản địa hôm nay đã đổi nhiều so với hai ba thế hệ trước. Rẫy lúa, bắp luân canh trên đồi phần lớn đã thành vườn cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái. Nhà sàn dài nhiều gian ít còn, thay bằng nhà xây hoặc nhà gỗ một gian theo kiểu chung của vùng. Trẻ đi học trường xã, nói tiếng Việt ở lớp và tiếng mẹ đẻ ở nhà. Nhưng những sợi dây cũ vẫn còn: quan hệ họ hàng chằng chịt trong bon, việc đổi công khi làm cỏ, hái quả, những dịp cả bon tụ lại khi có cưới hỏi, ma chay hay lễ mừng mùa.
Với người từ nơi khác đến, điều đáng nhớ là đất đai, rừng, suối gắn với ký ức và quyền sử dụng của những gia đình cụ thể. Một khoảnh rừng nhìn như bỏ hoang có thể là chỗ lấy măng, lấy củi, chỗ mồ mả của một dòng họ. Chi tiết về văn hoá, lễ hội và luật tục của đồng bào được viết riêng ở mục Đồng bào và văn hoá bản địa của trang; bài này chỉ đặt họ vào bức tranh chung của cư dân quanh hồ.
Người từ phía Bắc vào: những đợt lập nghiệp gần đây
Một lớp cư dân đông đảo ở vùng Đắk Glong cũ là đồng bào các dân tộc phía Bắc như Mông, Dao, Tày, Nùng. Phần lớn họ vào Tây Nguyên trong khoảng thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, có đợt theo chương trình của nhà nước, có đợt là các gia đình tự đi theo họ hàng đã vào trước. Người đi trước gửi tin về quê rằng ở đây đất rộng, trồng cà phê được; người sau theo vào, dựng nhà gần nhau, thành những thôn mà nghe giọng nói đã biết quê gốc ở đâu.
Những năm đầu là quãng khó nhất. Nhiều gia đình ở lán tạm, phát rẫy trên đất dốc, chưa có điện, đường, trường. Sau đó, chính quyền tổ chức lại dân cư, mở đường, đưa điện về, lập điểm trường; người dân chuyển dần từ cây ngắn ngày sang cà phê, tiêu. Đến nay, ở nhiều thôn quanh hồ, thế hệ thứ hai, thứ ba đã sinh ra và lớn lên tại đây, coi Tà Đùng là quê chứ không còn là nơi "vào làm ăn".
Nếp sống của người phía Bắc vẫn giữ nhiều nét quê gốc: Tết theo phong tục riêng, tiếng khèn, trang phục ngày lễ, cách dựng nhà và nuôi gia súc. Đồng thời họ đã học cách làm cà phê của Tây Nguyên, đi chợ ở Gia Nghĩa, gửi con xuống thành phố học nghề. Khi gặp một người Mông ở Tà Đùng, đừng mặc định họ là "khách" của vùng đất này; rất có thể họ sinh ra ngay trên con đồi mình đang đứng.
Người Kinh từ nhiều miền: rẫy, quán và những chuyến xe hàng
Người Kinh ở Tà Đùng cũng không đến cùng một lúc. Có người vào từ trước năm 2000 theo các đợt đi kinh tế mới hoặc theo người thân, có người lên khi giá cà phê, giá tiêu lên cao, mua lại rẫy của người đi trước. Quê gốc rải khắp các tỉnh miền Bắc, miền Trung; trong một thôn có thể nghe cùng lúc giọng Nghệ, giọng Quảng, giọng Bắc. Nhiều gia đình đã qua hai thế hệ ở đây.
Bên cạnh làm vườn, người Kinh nắm phần lớn các việc buôn bán nhỏ quanh trục quốc lộ 28 và các trung tâm thôn: tiệm tạp hoá, quán ăn, quán cà phê, đại lý phân bón, cửa hàng vật liệu xây dựng, tiệm sửa xe máy, điểm thu mua nông sản. Mạng lưới này nối Tà Đùng với Gia Nghĩa và xa hơn là TP.HCM; hàng hoá lên bằng xe tải, nông sản xuống cũng bằng những chuyến xe ấy.
Quan hệ giữa người Kinh với đồng bào trong vùng chủ yếu là quan hệ hàng xóm, mua bán, thuê mướn công vườn, gửi con học chung một trường. Có những chỗ chưa êm, như chuyện mua bán đất, vay mượn tiền trước mùa vụ, nhưng phần nhiều là sống cạnh nhau, đổi công cho nhau, ăn cưới nhau. Người khách để ý sẽ thấy quán ăn ven đường do người Kinh mở thường là nơi người các dân tộc cùng ngồi uống nước sau buổi chợ.
Những hộ phải dời chỗ khi hồ tích nước
Khi thủy điện Đồng Nai 3 chặn dòng và tích nước, khoảng cuối thập niên 2000 đầu thập niên 2010, nước dâng ngập các thung lũng ven sông, nơi từng có nhà, ruộng, rẫy của một số gia đình. Những hộ trong vùng ngập được di dời đến khu tái định cư hoặc tự tìm chỗ ở mới, nhận đất sản xuất và tiền bồi thường theo chính sách lúc ấy. Con số hộ cụ thể và chi tiết từng khu tái định cư không được nêu ở đây vì cần đối chiếu nguồn chính thức.
Với những gia đình này, mặt hồ khách ngắm hôm nay là chỗ ruộng nhà mình, là con đường cũ xuống sông. Nhiều người lớn tuổi vẫn chỉ được vị trí ngôi nhà cũ, nay đã nằm dưới mấy chục mét nước. Đổi chỗ ở cũng là đổi sinh kế: từ ruộng nước ven sông lên đất đồi, từ đánh cá sông sang đánh cá hồ, từ quen gần sang phải đi xa hơn để đến trường, đến chợ. Có người thích nghi nhanh, có người mất nhiều năm.
Câu chuyện tái định cư là một phần ký ức chung của vùng hồ và được viết kỹ hơn ở mục Ký ức lòng hồ của trang. Ở đây chỉ cần nhớ: trong số những người khách gặp trên bến thuyền, ngoài vườn cà phê, có người mang ký ức về một vùng đất đã chìm. Hỏi chuyện ấy cần nhẹ nhàng và chỉ khi họ muốn kể.
Các lớp cư dân Tà Đùng nhìn trong một bảng
Bảng dưới tóm các lớp cư dân theo thời gian xuất hiện và sinh kế chính. Mốc thời gian ghi ở mức gần đúng, mục đích là cho thấy bức tranh chung, không phải thống kê:
| Lớp cư dân | Có mặt từ khi nào | Sinh kế thường gặp | Khách hay gặp ở đâu |
|---|---|---|---|
| Đồng bào M'Nông, Mạ | Từ lâu đời, trước cả khi có tên xã | Vườn cà phê, tiêu, rẫy, rừng nhận khoán, làm công | Trong bon, ngoài vườn, chợ phiên |
| Đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng | Chủ yếu từ thập niên 1990 trở đi | Cà phê, tiêu, chăn nuôi, làm công vườn | Các thôn trên đồi, chợ, trường học |
| Người Kinh nhiều miền | Rải rác qua nhiều đợt, đông dần theo cây cà phê | Vườn, buôn bán, dịch vụ, thu mua nông sản | Dọc quốc lộ 28, trung tâm thôn, quán ăn |
| Hộ tái định cư | Khi hồ Đồng Nai 3 tích nước | Đất sản xuất mới, đánh bắt, nuôi cá trên hồ | Khu tái định cư, ven hồ |
| Người trẻ làm du lịch | Vài năm gần đây | Chèo thuyền, homestay hộ gia đình, dẫn đường, bán đặc sản | Bến thuyền, nơi lưu trú, mạng xã hội |
| Người thành phố lên ở lâu | Vài năm gần đây | Làm việc từ xa, làm vườn, mở nơi lưu trú | Trên các đồi nhìn hồ |
Ranh giới giữa các lớp không cứng. Một chàng trai người M'Nông có thể vừa làm vườn với cha mẹ vừa chèo thuyền cuối tuần; một gia đình người Kinh tái định cư có thể mở homestay. Bảng chỉ giúp nhận ra rằng "người Tà Đùng" là số nhiều.
Lớp cư dân mới: người trẻ ở lại và người thành phố lên
Từ khi hồ Tà Đùng được biết đến rộng rãi qua mạng xã hội với tên gọi "Vịnh Hạ Long Tây Nguyên", vùng đất đón thêm hai lớp người. Thứ nhất là người trẻ sinh ra ở đây, thay vì đi làm xa như nhiều bạn cùng lứa, ở lại chèo thuyền đưa khách, dựng vài phòng homestay trên đất nhà, dẫn khách lên đồi, bán cà phê, mật ong, măng khô qua mạng. Họ là cầu nối tự nhiên nhất giữa khách và dân trong vùng vì hiểu cả hai phía.
Lớp thứ hai là người từ TP.HCM, Đà Lạt, Biên Hoà và các đô thị khác lên mua đất, dựng nhà, ở theo tháng hoặc ở hẳn. Có người làm việc từ xa, có người về hưu, có cặp vợ chồng trẻ muốn con lớn lên gần thiên nhiên. Họ mang theo vốn, cách làm du lịch mới, nhưng cũng mang theo những đòi hỏi khác về đường sá, mạng, rác thải, và đôi khi những cách ứng xử chưa hợp nếp vùng.
Hai lớp người này đang thay đổi diện mạo Tà Đùng nhanh hơn mọi lớp trước. Việc họ hoà nhập ra sao với cư dân cũ, có giữ được nhịp sống vốn là thứ hút họ lên đây hay không, là câu hỏi mở. Các bài khác trong mục Con người và câu chuyện đi sâu vào từng chân dung: người trẻ ở lại, người thành phố lên sống, người lái thuyền, người giữ rừng.
Những hiểu lầm hay gặp khi nói về "người Tà Đùng"
Hiểu lầm: người Tà Đùng là người dân tộc thiểu số. Thực tế xã có cả đồng bào bản địa, đồng bào phía Bắc và người Kinh; nói chung chung "người dân tộc ở Tà Đùng" dễ làm sai và làm người nghe khó chịu. Khi cần, hỏi người đối diện là người dân tộc nào, quê gốc ở đâu.
Hiểu lầm: ai ở đây cũng sống bằng du lịch. Phần lớn hộ dân vẫn sống bằng vườn cà phê, tiêu, cây ăn trái và làm công. Du lịch mới chạm tới một phần nhỏ, chủ yếu quanh các bến thuyền và các đồi nhìn hồ.
Hiểu lầm: người ở đây nghèo và cần được "giúp". Có hộ khó khăn thật, nhất là ở các thôn xa; nhưng nhiều gia đình có vườn lớn, làm ăn ổn. Nhìn người khác qua lăng kính thương hại là cách nhanh nhất để mất lòng họ. Muốn làm thiện nguyện, hãy hỏi nhu cầu thật qua chính quyền xã, nhà trường.
Hiểu lầm: Tà Đùng là tên một bon, một làng. Tà Đùng trước hết là tên núi, sau đó thành tên khu bảo tồn rồi vườn quốc gia, tên hồ theo cách gọi quen, và từ 7/2025 là tên một xã gồm nhiều thôn, bon.
Hiểu lầm: người bản địa sống tách biệt. Đồng bào đi chợ, đi học, dùng điện thoại, bán cà phê cho cùng đại lý như mọi người; nét riêng nằm ở quan hệ cộng đồng và nếp văn hoá, không phải ở chỗ tách khỏi đời sống chung.
Câu hỏi thường gặp
Tà Đùng thuộc tỉnh nào sau sáp nhập 2025?
Từ ngày 1/7/2025, Tà Đùng là một xã của tỉnh Lâm Đồng, lập trên địa bàn hai xã cũ Đắk Som và Đắk R'Măng thuộc huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Cấp huyện không còn, nên địa chỉ mới ghi thôn hoặc bon, xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng.
Ở Tà Đùng có những dân tộc nào?
Quanh hồ có đồng bào bản địa M'Nông, Mạ; đồng bào phía Bắc vào lập nghiệp như Mông, Dao, Tày, Nùng; và người Kinh từ nhiều miền. Tỷ lệ từng dân tộc ở xã mới chưa có số liệu công bố rộng rãi, nên khi cần con số hãy hỏi UBND xã.
Người dân Tà Đùng chủ yếu sống bằng nghề gì?
Phần đông sống bằng vườn cà phê vối, hồ tiêu, cây ăn trái như sầu riêng, bơ, mắc ca, cùng làm công vườn theo mùa. Một phần làm dịch vụ, buôn bán dọc quốc lộ 28; quanh hồ có đánh bắt, nuôi cá lồng, chèo thuyền và lưu trú cho khách.
Người tái định cư thủy điện Đồng Nai 3 bây giờ sống ở đâu?
Các hộ trong vùng ngập được bố trí ở khu tái định cư hoặc tự chuyển đến nơi khác trong và ngoài vùng. Vị trí và số hộ cụ thể nên tra hồ sơ của chính quyền địa phương; nhiều người hiện vẫn sống quanh hồ và làm nghề gắn với mặt nước.
Khách đến Tà Đùng có dễ trò chuyện với người dân không?
Thường là dễ nếu bắt đầu bằng sự tôn trọng: chào hỏi, mua hàng ở quán của họ, hỏi về vườn, về thời tiết thay vì hỏi ngay chuyện thu nhập hay đất đai. Với đồng bào lớn tuổi có thể có rào cản ngôn ngữ, người trẻ trong nhà thường giúp phiên dịch.
Có nên gọi chung người ở đây là người Tây Nguyên không?
Về địa lý thì Tà Đùng thuộc vùng Tây Nguyên, nhưng nhiều cư dân có quê gốc ở miền Bắc, miền Trung. Gọi đúng tên dân tộc hoặc đơn giản là cư dân Tà Đùng sẽ chính xác và dễ nghe hơn với chính họ.