TaDung.org
Đồng bào và văn hoá bản địa

Người Dao, Tày, Nùng ở vùng hồ Tà Đùng: làng người phía Bắc giữa Tây Nguyên

Người Dao, Tày, Nùng vào vùng hồ Tà Đùng từ khi nào, còn giữ hát then, đàn tính, lễ cấp sắc, nghề thêu, rằm tháng Bảy ra sao và khác quê gốc ở những điểm nào.

An elderly woman in a dark indigo blouse sitting on a wooden veranda stitching cloth, coffee garden and a glimpse of the lake beyond, soft overcast light, side view

Người Dao, Tày, Nùng ở vùng hồ Tà Đùng là đồng bào từ các tỉnh miền núi phía Bắc, chủ yếu Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Kạn, vào lập nghiệp sau năm 1975, đông nhất trong thập niên 1990; họ sống thành xóm, thôn xen với người Kinh và đồng bào bản địa, vẫn giữ tiếng nói, hát then, đàn tính, lễ cấp sắc của người Dao, nghề thêu trên vải chàm và những cái Tết theo lịch âm như rằm tháng Bảy.

So với người Mông, ba cộng đồng này ít nổi bật hơn trong mắt khách, vì trang phục thường ngày gần với người Kinh và nhiều người nói tiếng phổ thông rất thạo. Nhưng nếu ở lại đủ lâu, khách sẽ gặp một mâm xôi nhiều màu ngày Tết, một tiếng đàn tính trong buổi liên hoan của xã, hay một bộ áo thêu của bà cụ người Dao cất trong rương. Bài này giới thiệu từng nhóm, những gì còn giữ, những gì đổi khác, và cách nhận ra họ mà không đoán bừa.

Họ vào Tây Nguyên bằng con đường nào

Người Tày, Nùng có mặt ở Tây Nguyên sớm hơn nhiều người nghĩ. Ngay sau năm 1975, một số gia đình đã theo các đợt đi xây dựng vùng kinh tế mới, theo các nông trường, lâm trường vào Đắk Lắk cũ. Đến cuối thập niên 1980 và thập niên 1990, dòng di cư tự do lớn hơn nhiều: đất ở quê chật, mất mùa, nghe tin họ hàng làm ăn được ở Tây Nguyên, cả xóm lần lượt vào theo.

Người Dao cũng đi theo con đường tương tự, thường theo dòng họ và theo nhóm Dao của mình. Ở Việt Nam, người Dao có nhiều nhóm với trang phục, phong tục khác nhau; ở Tây Nguyên, khách có thể gặp gia đình thuộc các nhóm Dao khác nhau sống gần nhau, và người trong cuộc phân biệt nhau qua cách đội khăn, cách thêu, cách gọi tên.

Đường vào thời ấy dài và tốn kém: đi xe khách, có khi đi tàu đến các tỉnh miền Trung rồi chuyển xe lên Tây Nguyên, mang theo chăn màn, nồi niêu, giống cây và vài con gà. Nhiều gia đình bán hết ruộng nương ở quê để có tiền đường, nên đến nơi là không còn đường lui, phải bám đất bằng mọi giá. Chính sự quyết liệt ấy giải thích vì sao nhiều xóm Tày, Nùng ở Tây Nguyên hôm nay khá chắc chắn về kinh tế sau vài chục năm.

Vùng Đắk Glong cũ đón cả ba nhóm trong cùng một thời kỳ với người Mông. Những năm đầu, họ trồng lúa nước ở các khe suối có nước, trồng ngô, sắn trên đồi, rồi chuyển sang cà phê, hồ tiêu. Người Tày, Nùng có kinh nghiệm làm ruộng nước và làm vườn, nên nhiều nơi họ là những người đầu tiên khai ruộng bậc thang nhỏ dưới thung.

Người Tày, Nùng: then, đàn tính và nếp nhà

Hát then và đàn tính. Then là loại hình nghi lễ và diễn xướng của người Tày, Nùng, Thái, có lời hát, tiếng đàn tính và chùm xóc nhạc. Năm 2019, "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" được UNESCO ghi vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Ở Tây Nguyên, then được giữ qua các câu lạc bộ, các buổi giao lưu văn nghệ và trong một số nghi lễ gia đình.

Hát sli, hát lượn. Đây là lối hát giao duyên, đối đáp: sli của người Nùng, lượn của người Tày. Ngày trước trai gái hát trong chợ, trong hội; nay chủ yếu còn ở người trung niên và trong các buổi văn nghệ.

Nếp nhà và bàn thờ tổ tiên. Người Tày, Nùng thờ cúng tổ tiên trên bàn thờ đặt ở gian giữa, coi trọng gia phả, họ tộc. Ở quê gốc nhiều nơi ở nhà sàn; vào Tây Nguyên, gần như ai cũng ở nhà đất, nhà xây, nhưng cách bày bàn thờ, cách tiếp khách vẫn giữ.

Áo chàm và vải nhuộm. Trang phục truyền thống là áo dài, áo cánh màu chàm, khá giản dị. Ngày thường ít người mặc, dịp lễ, dịp cưới và các buổi biểu diễn thì lấy ra.

Tiếng nói. Tiếng Tày và tiếng Nùng gần nhau, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Ở các xóm đông người Tày, Nùng, người lớn tuổi vẫn nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ, trẻ em hiểu nhưng nhiều em ít nói.

Người Dao: lễ cấp sắc, chữ cúng và đôi tay thêu

Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng bậc nhất trong đời người đàn ông Dao, đánh dấu sự trưởng thành và được tổ tiên công nhận, được đặt tên mới, được phép làm một số nghi lễ trong gia đình. Lễ kéo dài nhiều ngày, tốn kém, cần thầy cúng thông thạo, nên ở Tây Nguyên không phải gia đình nào cũng tổ chức được; có khi cả họ hợp lại làm chung, hoặc mời thầy từ nơi khác đến.

Người Dao có truyền thống dùng chữ Nôm Dao, dựa trên chữ Hán, để chép sách cúng, gia phả, truyện thơ. Ở vùng di cư, số người đọc được loại chữ này còn rất ít, và những cuốn sách cúng mang từ quê vào là tài sản quý của dòng họ, thường không đưa người ngoài xem.

Phụ nữ Dao nổi tiếng với nghề thêu trên nền vải chàm, chỉ đỏ, vàng, trắng, những hoa văn hình học, hình cây, hình người được thêu bằng trí nhớ mà không cần mẫu vẽ. Một bộ trang phục thêu đầy đủ có thể mất nhiều tháng làm trong lúc nông nhàn. Người Dao cũng có kinh nghiệm dùng cây lá làm nước tắm, thuốc xông; khách gặp các bài thuốc này nên coi là tri thức dân gian, không thay cho chữa bệnh ở cơ sở y tế.

Ở vùng hồ, đồ thêu Dao ngày nay ít được mặc thường ngày, nhưng vẫn là thứ không thể thiếu trong lễ cưới, lễ cấp sắc và khi người già qua đời. Nhiều bà, nhiều mẹ vẫn dành dụm từng tấm thêu cho con gái làm của hồi môn, coi đó là cách truyền nghề lặng lẽ: con gái nhìn mẹ thêu, rồi tự thêu tấm đầu tiên của mình.

Lễ Tết theo năm của đồng bào Dao, Tày, Nùng ở vùng hồ

Lịch dưới đây là đường nét chung; mỗi dòng họ, mỗi thôn có thể khác, và ở Tây Nguyên nhiều lễ được rút gọn vì mùa vụ.

Thời điểm (âm lịch)Lễ, TếtAi giữ nhiềuGhi chú cho khách
Tháng GiêngTết Nguyên đánCả ba nhómGói bánh chưng, có nhà làm bánh chưng dài, xôi nhiều màu
Tháng GiêngHội xuống đồng (lồng tồng)Tày, NùngMột số nơi ở Tây Nguyên tổ chức như ngày hội của xóm, xã
Mồng 3 tháng BaTết Thanh minh, tảo mộTày, NùngViệc của gia đình, khách không nên đi theo
Mồng 5 tháng NămTết giết sâu bọTày, Nùng, KinhĂn hoa quả, rượu nếp, bánh tro
Rằm tháng BảyTết Trung nguyênTày, NùngMột trong những Tết lớn nhất trong năm, có nhà làm vịt, bánh
Theo dòng họLễ cấp sắcDaoKhông phải năm nào cũng có; chỉ đến khi được mời

Khác với lễ hội của đồng bào bản địa gắn với rẫy và rừng, lễ Tết của người phía Bắc phần nhiều gắn với gia đình, dòng họ và lịch âm, nên người ngoài ít khi thấy nếu không được mời vào nhà.

Món ăn mang từ quê vào

Ẩm thực là phần mà người phía Bắc ở Tà Đùng giữ được nhiều nhất, vì nguyên liệu dễ tìm hơn ta tưởng. Xôi nhiều màu nhuộm bằng lá cây, hoa củ, bánh chưng, bánh gio, khâu nhục, thịt lợn sấy gác bếp, lạp sườn hun khói là những món thường có dịp Tết, dịp cưới. Một số gia đình trồng thêm cây lá quen thuộc từ quê như rau ngót rừng, gừng, riềng, lá nhuộm xôi quanh nhà.

Rượu ngô, rượu gạo nấu thủ công vẫn có trong mâm cỗ, cùng các món luộc, món nướng. Người Tày, Nùng có thói quen mời khách ăn thật no, gắp vào bát khách liên tục; khách không ăn được nữa thì nói lời cảm ơn và để lại một ít trong bát.

Chi tiết về các món này trong đời sống hằng ngày và mùa vụ được nói kỹ hơn ở bài riêng về món ăn của đồng bào vùng hồ; ở đây chỉ cần nhớ rằng một bữa cơm nhà người Tày, Nùng ở Tà Đùng có thể giống bữa cơm ở Cao Bằng, Lạng Sơn hơn là giống món ăn Tây Nguyên.

Giữ và đổi: một thế hệ trên đất mới

Thế hệ thứ nhất vào Tây Nguyên giữ văn hoá theo bản năng: nói tiếng mẹ đẻ, làm lễ như ở quê, hát những bài đã thuộc. Thế hệ thứ hai, sinh ra ở Đắk Nông, đi học bằng tiếng phổ thông, làm cà phê, đi làm thuê ở thành phố, nhiều người chỉ còn nghe hiểu tiếng mẹ đẻ. Thế hệ thứ ba đang lớn lên trong gia đình có cha mẹ khác dân tộc, có điện thoại và mạng xã hội từ nhỏ.

Một mặt, điều này làm mai một nhanh những thứ cần thời gian và thầy dạy, như then, chữ Nôm Dao, nghề thêu phức tạp. Mặt khác, mạng xã hội lại giúp người trẻ tìm lại bài hát, điệu đàn của quê gốc, kết nối với họ hàng ở phía Bắc, thậm chí đặt mua đồ thêu, vải chàm từ quê vào. Một số câu lạc bộ then, đàn tính ở Tây Nguyên ra đời từ chính nhu cầu ấy.

Với một vùng hồ đang làm du lịch, văn hoá Tày, Nùng, Dao là một lớp còn ít được kể. Khách tò mò có thể hỏi chủ homestay, hỏi người dẫn đường xem trong xã có câu lạc bộ văn nghệ nào, có gia đình nào còn thêu, còn đàn, và nếu được giới thiệu thì đến nghe với tâm thế người học hỏi.

Nhận ra và trò chuyện với đồng bào Dao, Tày, Nùng

Vì trang phục thường ngày gần với người Kinh, khách rất dễ nhầm hoặc không nhận ra. Vài gợi ý nhỏ:

  • Đừng đoán dân tộc qua khuôn mặt hay giọng nói; nếu cần, hỏi thẳng "anh chị là người dân tộc gì" một cách tự nhiên, phần lớn người ta vui vẻ trả lời.
  • Hỏi về quê gốc thường mở ra câu chuyện dài: vào năm nào, đi đường nào, ai đi trước, quê bây giờ ra sao.
  • Người Tày, Nùng rất quý khách biết vài câu chào bằng tiếng của họ, nhưng đừng cố bắt chước khi không chắc, dễ thành trêu.
  • Với người Dao, không tò mò hỏi về sách cúng, lễ cấp sắc khi chưa thân; đó là chuyện thiêng của dòng họ.
  • Muốn nghe then, đàn tính, nên hỏi qua câu lạc bộ, văn hoá xã hoặc người quen, và trả công cho người biểu diễn.

Một cuộc trò chuyện tử tế với một gia đình người Tày vào từ Cao Bằng ba mươi năm trước có khi dạy khách về Tây Nguyên nhiều hơn mọi tấm ảnh hồ.

Câu hỏi thường gặp

Ở Tà Đùng có người Tày, Nùng không?

Có. Vùng Đắk Glong cũ, trong đó có hai xã Đắk Som và Đắk R'Măng nay là xã Tà Đùng, có nhiều gia đình người Tày, Nùng từ các tỉnh phía Bắc vào sinh sống từ sau năm 1975, đông nhất là thập niên 1990. Họ sống xen với người Kinh và đồng bào khác.

Hát then là gì và có được UNESCO công nhận không?

Then là loại hình nghi lễ, diễn xướng có lời hát, tiếng đàn tính và xóc nhạc của người Tày, Nùng, Thái. Năm 2019, Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Lễ cấp sắc của người Dao có cho khách xem không?

Đây là lễ thiêng của gia đình và dòng họ, không tổ chức để phục vụ khách. Nếu được gia chủ mời, khách có thể dự với tư cách người quen, làm theo hướng dẫn, không chụp ảnh khi chưa được phép và không chen vào khu vực làm lễ.

Rằm tháng Bảy của người Tày có gì khác người Kinh?

Với người Tày, Nùng, rằm tháng Bảy là một trong những Tết lớn nhất năm, nhiều nhà làm cỗ, mổ vịt, làm bánh, con cháu về sum họp. Người Kinh thường coi đây là dịp cúng cô hồn, lễ Vu Lan, quy mô trong gia đình nhỏ hơn.

Có thể mua đồ thêu của người Dao ở Tà Đùng không?

Có thể, nhưng không có chợ riêng. Cách dễ nhất là hỏi qua người quen, chủ homestay hoặc cán bộ văn hoá xã để được giới thiệu gia đình còn thêu. Đồ thêu tay mất nhiều ngày công, nên giá cao hơn đồ máy; hãy hỏi rõ và trả giá vừa phải.

Thế hệ trẻ người Tày, Nùng ở đây còn nói tiếng mẹ đẻ không?

Nhiều em nghe hiểu nhưng ít nói, nhất là trong gia đình có cha mẹ khác dân tộc. Người lớn tuổi vẫn nói tiếng mẹ đẻ trong nhà. Một số gia đình và câu lạc bộ văn nghệ đang cố gắng dạy lại bài hát, câu chào cho trẻ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83