Cồng chiêng quanh hồ Tà Đùng là của người M'Nông và người Mạ, vang lên chủ yếu trong các lễ của bon, của gia đình như mừng lúa mới, cúng bến nước, mừng nhà mới, cưới hỏi, tang lễ, và trong các ngày hội văn hoá do xã, tỉnh tổ chức; khách muốn nghe có hai cách đúng: đến khi bon có lễ và được mời, hoặc thuê đội chiêng của bon biểu diễn qua người tổ chức có trả công tử tế.
Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên, trải trên năm tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng (theo địa giới khi đó), được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại năm 2005, rồi chuyển vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2008. Vùng hồ Tà Đùng nằm trong không gian ấy. Bài này giải thích chiêng có ý nghĩa gì với người trong bon, một dàn chiêng được đánh ra sao, dịp nào chiêng vang, và những phép lịch sự khách nên giữ.
Chiêng không chỉ là nhạc cụ
Với người M'Nông, người Mạ, mỗi chiếc chiêng là một tài sản quý và có linh hồn. Ngày xưa, một chiếc chiêng tốt có thể đổi bằng nhiều con trâu, được truyền từ đời này sang đời khác, và số chiêng trong nhà cho thấy sự giàu có, uy tín của gia đình. Chiêng được cất giữ cẩn thận, khi đem ra dùng trong lễ lớn có khi phải cúng trước.
Chiêng là tiếng nói với thần linh: tiếng chiêng mở đầu lễ, mời thần núi, thần nước, thần lúa về chứng giám, báo tin vui, tin buồn cho cả bon. Có những bài chiêng chỉ dành cho tang lễ, có bài chỉ đánh khi đón khách quý, có bài cho lúc mừng lúa mới. Đánh sai bài, sai dịp không chỉ là lỗi nhạc mà là phạm điều kiêng.
Vì vậy, khi nghe người trong bon nói "chiêng của bon", "chiêng của nhà", nên hiểu đó là thứ gắn với danh dự và ký ức của cộng đồng. Thái độ của khách với chiếc chiêng cũng là thái độ với chủ nhân của nó.
Một dàn chiêng được tổ chức và đánh thế nào
Cồng và chiêng. Trong cách gọi phổ thông, chiếc có núm nhô ở giữa thường gọi là cồng, chiếc mặt bằng gọi là chiêng. Mỗi dân tộc, mỗi nhóm dùng tỷ lệ khác nhau; số chiếc trong một dàn cũng khác theo nhóm và theo bon, không có con số chung cho cả vùng.
Mỗi người một âm. Khác với nhạc cụ một người chơi, trong dàn chiêng mỗi người cầm một chiếc, mỗi chiếc cho một âm. Bài chiêng hình thành khi các âm ấy được gõ đúng lúc, đan vào nhau. Vì thế đánh chiêng đòi hỏi cả đội nghe nhau, phối hợp như một.
Đánh bằng dùi hoặc bằng tay. Tuỳ nhóm, tuỳ chiếc chiêng, người chơi dùng dùi bọc vải, dùi gỗ, hoặc dùng nắm tay, lòng bàn tay vỗ vào mặt chiêng; tay kia có thể áp vào mặt chiêng để chặn tiếng.
Đi vòng quanh. Trong nhiều lễ, đội chiêng vừa đánh vừa đi thành vòng quanh cây nêu, quanh đống lửa hoặc trong nhà, phụ nữ múa theo. Hướng đi vòng thường có quy định riêng của từng dân tộc.
Chỉnh chiêng. Chiêng mua về hoặc chiêng lâu ngày bị lệch âm phải được người thợ chỉnh chiêng gõ, nắn mặt chiêng bằng búa nhỏ cho đúng âm của dàn. Người chỉnh chiêng giỏi rất hiếm và được kính trọng.
Dịp nào chiêng vang lên quanh hồ
Bảng dưới gom những dịp phổ biến ở các bon M'Nông, Mạ; mỗi bon có lịch và cách làm riêng do già làng quyết.
| Dịp | Thời gian thường gặp | Tính chất | Khách có thể tham dự? |
|---|---|---|---|
| Mừng lúa mới | Sau thu hoạch lúa rẫy, cuối năm dương lịch đến đầu năm | Lễ chung của bon, vui | Có thể, khi được bon mời |
| Cúng bến nước | Mùa khô | Lễ chung, tạ ơn nguồn nước | Có thể, đứng xa, theo hướng dẫn |
| Mừng nhà mới, cưới hỏi | Quanh năm, thường mùa khô | Việc của gia đình | Chỉ khi gia chủ mời |
| Tang lễ | Bất kỳ lúc nào | Buồn, kiêng kỵ | Không đến nếu không quen gia đình |
| Ngày hội văn hoá xã, tỉnh | Dịp lễ lớn, ngày 19/4 | Biểu diễn, giao lưu | Có, mở cho mọi người |
| Đón khách đoàn | Theo đặt trước | Biểu diễn có trả công | Có, qua người tổ chức |
Ngày 19/4 hằng năm là Ngày Văn hoá các dân tộc Việt Nam; quanh dịp này, các xã, các tỉnh thường có hoạt động giao lưu văn hoá, là lúc khách dễ được nghe cồng chiêng nhất mà không phải chen vào lễ riêng của ai.
Chiêng đang mất đi như thế nào
Nhiều bộ chiêng quý đã rời khỏi bon trong vài chục năm qua: có nhà bán vì cần tiền, có chiêng bị mất cắp, có chiêng bị nứt, vỡ mà không có người sửa. Ở vùng hồ Tà Đùng, việc tái định cư và đổi nếp sinh kế cũng làm một số dịp đánh chiêng thưa dần, khi lúa rẫy ít đi thì lễ lúa cũng ít đi.
Thiếu chiêng là một chuyện, thiếu người đánh còn đáng lo hơn. Người biết đánh đủ các bài, nhất là bài cho tang lễ, cho lễ lớn, phần nhiều đã lớn tuổi; người trẻ thường chỉ thuộc vài bài biểu diễn. Người chỉnh chiêng còn hiếm hơn nữa.
Những năm gần đây, các cấp chính quyền và ngành văn hoá ở Tây Nguyên có các lớp truyền dạy cồng chiêng cho thanh thiếu niên, hỗ trợ bon mua sắm, phục hồi bộ chiêng, tổ chức liên hoan. Ở cấp bon, già làng và các nghệ nhân vẫn là người giữ lửa. Khách đến nghe, trả công xứng đáng, quý trọng tiếng chiêng là một cách nhỏ để người trẻ thấy học chiêng là đáng.
Mời một đội chiêng biểu diễn cho đoàn khách: làm sao cho đúng
Nhiều đoàn khách, công ty muốn có tiết mục cồng chiêng trong chuyến đi Tà Đùng. Làm đúng thì vừa vui cho khách, vừa có lợi cho bon.
- Liên hệ qua người có trách nhiệm: trưởng bon, cán bộ văn hoá xã, hoặc đơn vị du lịch có quan hệ lâu dài với bon. Tránh thuê qua người trung gian không rõ ràng.
- Nói rõ mục đích, số khách, thời gian, địa điểm. Để đội chiêng chọn bài phù hợp với dịp vui đón khách; không yêu cầu bài dành cho tang lễ hay nghi lễ thiêng.
- Thoả thuận khoản thù lao trước, trả trực tiếp cho đội chiêng hoặc qua trưởng bon, có tính tiền đi lại, ăn uống cho người biểu diễn.
- Để đội chiêng diễn trọn bài, không cắt ngang để chụp ảnh, không kéo người biểu diễn ra tạo dáng giữa chừng.
- Nếu được mời vào vòng múa, khách có thể tham gia theo hướng dẫn; không tự ý cầm chiêng lên gõ thử.
- Sau buổi diễn, cảm ơn già làng, đội chiêng; nếu muốn ủng hộ thêm, góp vào quỹ của đội chiêng hoặc quỹ chung của bon.
Một buổi biểu diễn vừa đủ, tôn trọng, có khi còn kèm lời giải thích của già làng về ý nghĩa từng bài, đáng giá hơn nhiều so với màn trình diễn kéo dài theo yêu cầu khách.
Nghe chiêng cho đúng: vài gợi ý cho người ngoài
Tiếng chiêng nghe hay nhất ở không gian mở, ban đêm, quanh lửa, khi người đánh và người nghe đều thư thả, chứ không phải qua loa trong nhà hàng. Hãy đứng hoặc ngồi đủ xa để nghe cả dàn, thay vì sát cạnh một chiếc chiêng.
Đừng tìm giai điệu như nghe nhạc phổ thông. Bài chiêng là những vòng âm thanh lặp lại, đổi dần, nhịp có khi chồng lên nhau. Nghe một lúc, người ta mới nhận ra từng lớp âm, nhận ra lúc nào bài sắp chuyển.
Khi chiêng đang vang trong một nghi lễ, giữ yên lặng, tắt nhạc điện thoại, không gọi nhau ồn ào, không chen vào giữa vòng người đánh. Nếu cần quay phim, đứng ở rìa, không bật đèn chiếu thẳng vào người đánh, và dừng ngay khi có người nhắc. Sự kín đáo ấy là lời khen lớn nhất khách có thể dành cho đội chiêng.
Hỏi người trong bon bài này dành cho dịp gì, nói về điều gì. Nhiều bài chiêng gắn với câu chuyện, với lời khấn, với sử thi. Câu trả lời của một nghệ nhân giúp khách nghe bằng hiểu biết, không chỉ bằng tai.
Chiêng trong vòng đời một người M'Nông, Mạ
Theo nếp truyền thống, tiếng chiêng đi cùng một người từ lúc mới sinh đến khi về với tổ tiên. Có nơi làm lễ đặt tên, lễ mừng đứa trẻ cứng cáp với tiếng chiêng báo cho họ hàng và thần linh biết nhà có thêm người. Lớn lên, trai gái gặp nhau trong những đêm hội có chiêng, có rượu cần; lễ cưới, lễ mừng nhà mới đều không thể thiếu tiếng chiêng.
Khi một người qua đời, tiếng chiêng báo tang lan khắp bon và các bon lân cận. Những bài chiêng tang có nhịp riêng, buồn và chậm, chỉ đánh trong dịp ấy. Ở nhiều nhóm, sau một thời gian còn có lễ bỏ mả, kết thúc thời gian để tang, cũng có chiêng, có rượu, có ăn uống đông người. Người trong bon nghe tiếng chiêng là biết nhà nào đang có việc, việc vui hay việc buồn.
Hiểu vòng đời ấy, khách sẽ thấy vì sao không thể "đặt hàng" bất kỳ bài chiêng nào cho vui. Mỗi bài là một lời nhắn trong đời sống cộng đồng, gắn với một dịp, một tâm trạng. Đội chiêng biểu diễn cho khách thường chọn các bài đón khách, bài vui, và đó là lựa chọn nên tôn trọng.
Cồng chiêng trước du lịch: giữ thiêng hay thành tiết mục
Khi vùng hồ đón khách nhiều hơn, cồng chiêng dễ thành một tiết mục trong chương trình tour, kèm lửa trại, rượu cần, múa xoang. Điều này có mặt tốt: đội chiêng có thêm thu nhập, người trẻ có lý do để học, khách có dịp nghe một âm thanh mà nhiều người chỉ biết qua sách. Nhiều địa phương ở Tây Nguyên đã đi theo hướng này và giữ được đội chiêng của bon nhờ có khách.
Mặt trái cũng rõ. Khi biểu diễn quá dày, theo yêu cầu, bài chiêng bị cắt ngắn, các bài thiêng bị mang ra diễn, người đánh mệt mỏi và coi chiêng là việc làm thuê. Có nơi khách được mời "đánh chiêng thử" giữa lúc say, chiêng bị gõ sai cách đến nứt. Những người làm văn hoá ở Tây Nguyên thường nhắc rằng một không gian văn hoá chỉ còn sống khi người trong cuộc còn thấy nó là của mình.
Vì thế, khi chọn một chương trình có cồng chiêng ở Tà Đùng, khách nên ưu tiên nơi để già làng, nghệ nhân giới thiệu ý nghĩa bài chiêng, trả công thẳng cho đội chiêng, và không gộp chiêng với những trò ồn ào. Một buổi nghe ít bài nhưng có giải thích, có tôn trọng, giúp chiêng sống lâu hơn nhiều buổi diễn ồn ào.
Câu hỏi thường gặp
Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận năm nào?
Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại năm 2005, sau đó năm 2008 được chuyển vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Không gian này gồm cả vùng Đắk Nông cũ, nơi có hồ Tà Đùng.
Đến Tà Đùng có chắc được nghe cồng chiêng không?
Không chắc, vì chiêng gắn với lễ của bon và gia đình, không diễn hằng ngày. Muốn nghe, hãy hỏi trước chủ homestay, người dẫn đường hay cán bộ văn hoá xã xem có dịp lễ, ngày hội nào, hoặc đặt trước đội chiêng biểu diễn cho đoàn qua người có trách nhiệm.
Người Mông ở Tà Đùng có đánh cồng chiêng không?
Không. Cồng chiêng ở vùng hồ là của đồng bào bản địa M'Nông và Mạ. Người Mông có cây khèn, người Tày, Nùng có đàn tính, người Dao có trống, chuông trong nghi lễ. Gọi tất cả là "văn hoá cồng chiêng" là gộp sai.
Khách có được gõ thử chiêng không?
Không nên tự ý. Với người trong bon, chiêng là tài sản có linh hồn và gắn với nghi lễ. Nếu đội chiêng mời khách thử trong buổi giao lưu thì cứ làm theo hướng dẫn; còn khi chiêng đang treo trong nhà hay đặt trong lễ, tuyệt đối không động vào.
Mua chiêng cũ của đồng bào làm kỷ niệm có nên không?
Không nên. Mỗi chiếc chiêng rời bon là một phần dàn chiêng bị khuyết, nhiều khi không bù lại được. Mua chiêng cổ còn có thể vướng quy định về di vật, cổ vật. Muốn có kỷ niệm, hãy mua đồ thủ công, thổ cẩm do bà con làm.
Ai giữ nghề đánh chiêng trong bon?
Chủ yếu là những người đàn ông lớn tuổi, các nghệ nhân và già làng. Ở nhiều bon, đội chiêng thiếu niên được thành lập qua các lớp truyền dạy. Người thợ chỉnh chiêng hiếm hơn, có khi cả vùng chỉ vài người, được mời đi nhiều nơi.