Giáo viên điểm trường ở Tà Đùng là những thầy cô dạy mầm non và tiểu học tại các điểm lẻ đặt ngay trong thôn, bon cách xa trường chính; họ dạy trẻ nhiều dân tộc, nhiều em vào lớp còn chưa thạo tiếng Việt, và đi lại hằng ngày trên những con đường đất dốc, trơn trượt mùa mưa. Nhiều thầy cô quê ở nơi khác, thuê nhà hoặc ở nhà công vụ cạnh trường, mỗi tuần hoặc mỗi tháng mới về nhà một lần.
Điểm trường lẻ tồn tại để trẻ nhỏ không phải đi bộ quá xa tới trường chính. Mạng lưới trường lớp ở vùng này đang thay đổi theo hướng gom điểm lẻ khi đường sá tốt hơn, nên số điểm trường cụ thể không được nêu ở đây. Bài viết kể về công việc của giáo viên điểm trường như một chân dung chung: một ngày dạy học, những việc ngoài giờ, cái khó thật sự, và cách người từ nơi khác đến có thể giúp đúng với nhu cầu của trường thay vì làm theo cảm hứng.
Điểm trường là gì và vì sao vẫn cần
Ở các xã miền núi, một trường mầm non hoặc tiểu học thường có điểm chính đặt ở trung tâm xã và một số điểm lẻ ở các thôn xa. Điểm lẻ có khi chỉ là một hai phòng học, một sân nhỏ, một nhà vệ sinh, nơi học sinh lớp nhỏ học gần nhà; lên lớp lớn hơn các em mới ra điểm chính. Với địa hình đồi dốc, thôn xóm rải rác quanh hồ như Tà Đùng, điểm lẻ giúp trẻ năm sáu tuổi không phải đi bộ nhiều cây số hay qua những đoạn đường nguy hiểm.
Những năm gần đây, khi đường liên thôn được bê tông hoá và chính sách khuyến khích gom điểm trường để nâng chất lượng, nhiều điểm lẻ được nhập về điểm chính, học sinh lớp lớn được tổ chức ăn ở bán trú. Nhưng ở những thôn xa, đặc biệt là với trẻ mầm non, điểm lẻ vẫn còn cần. Việc giữ hay gom điểm nào là quyết định của ngành giáo dục địa phương, dựa trên số trẻ, đường đi và điều kiện của từng nơi.
Với cộng đồng, điểm trường còn hơn một nơi học chữ. Đó thường là công trình công cộng khang trang nhất trong thôn, là nơi họp thôn, nơi tổ chức Trung thu cho trẻ, nơi người dân gặp nhau mỗi sáng đưa con đến lớp.
Một ngày của cô giáo mầm non ở điểm lẻ
Hình dung một cô giáo trẻ, quê ở tỉnh khác, ra trường rồi nhận công tác ở một điểm trường mầm non trong thôn xa. Cô dậy từ sáng sớm, chạy xe máy trên con đường đất đỏ từ chỗ trọ tới lớp, mùa khô bụi phủ kín áo, mùa mưa có đoạn phải dắt xe. Tới nơi, cô mở cửa lớp, quét dọn, chuẩn bị đồ chơi, rồi đứng ở cổng đón trẻ. Có em được cha mẹ chở tới, có em tự đi cùng anh chị, có hôm cô phải đi vào xóm gọi những em chưa đến.
Trong lớp, phần lớn thời gian không phải dạy chữ mà là dạy nói, dạy nếp sinh hoạt: chào hỏi, rửa tay, xếp hàng, kể tên đồ vật bằng tiếng Việt. Nhiều em ở nhà chỉ nói tiếng mẹ đẻ, nên cô dùng tranh ảnh, cử chỉ, bài hát và học vài từ tiếng của các em để làm cầu nối. Giờ ăn trưa, cô chia cơm, đút cho em nhỏ; giờ ngủ trưa, cô ngồi canh. Chiều về, cô chờ phụ huynh đón hết, có hôm phải chở em về tận nhà vì cha mẹ còn ở rẫy.
Tối về chỗ trọ, cô soạn bài, làm đồ dùng dạy học từ bìa các tông, vỏ chai, lá cây. Cuối tuần, nếu đường tốt, cô về nhà; nếu mưa lớn, cô ở lại. Câu chuyện này không phải của một người cụ thể, nhưng là nhịp sống quen thuộc của nhiều giáo viên vùng sâu ở Tây Nguyên.
Dạy trẻ nhiều dân tộc, nhiều tiếng mẹ đẻ
Một lớp ở điểm trường quanh hồ có thể có trẻ người M'Nông, người Mạ, người Mông, người Dao, người Kinh ngồi cạnh nhau. Mỗi em mang tới lớp một tiếng mẹ đẻ, một nếp nhà khác nhau. Với giáo viên, đây vừa là thách thức vừa là cơ hội. Thách thức vì phải giúp các em đạt được tiếng Việt đủ để vào lớp một mà không bị bỏ lại phía sau; cơ hội vì trẻ học từ nhau rất nhanh và lớp học thành nơi các nền văn hoá gặp nhau tự nhiên nhất.
Ngành giáo dục có các chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số trước khi vào lớp một, chú trọng giai đoạn mầm non. Giáo viên được tập huấn phương pháp, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc nhiều vào sự kiên nhẫn của từng người. Thầy cô giỏi ở vùng này thường là người tôn trọng tiếng mẹ đẻ của trẻ, không chê cười cách phát âm, và tìm cách mời phụ huynh, người lớn trong bon cùng tham gia.
Một chuyện nhỏ nhưng quan trọng là tên gọi. Tên của trẻ ở nhiều dân tộc có cách đặt và cách đọc riêng; giáo viên đọc đúng tên một em là cách đầu tiên để em thấy mình được tôn trọng ở trường. Người từ nơi khác đến thăm lớp cũng nên học điều này.
Những việc ngoài giờ ít người biết
Ngoài dạy học, giáo viên điểm trường ở vùng sâu thường kiêm nhiều việc. Đầu năm học, họ đi từng nhà vận động trẻ đến lớp, giải thích cho phụ huynh vì sao nên cho con đi học đều, nhất là vào mùa hái cà phê khi nhiều gia đình muốn mang con theo lên rẫy. Khi trẻ nghỉ nhiều ngày, họ đến tận nhà hỏi thăm.
Họ cũng là người theo dõi sức khoẻ ban đầu của trẻ: phát hiện em sốt, em bị thương, em có dấu hiệu suy dinh dưỡng để báo phụ huynh, báo trạm y tế. Họ tham gia các đợt tiêm chủng, uống vitamin, khám sức khoẻ ở trường. Ở những trường có bán trú, giáo viên còn lo bữa ăn, chỗ ngủ, giờ tắm giặt cho học sinh ở lại.
Mùa mưa có sạt lở, giáo viên cùng phụ huynh dọn đường, sửa lớp. Khi có đoàn thiện nguyện đến, họ là người tiếp đón, sắp xếp, ghi nhận quà. Rất nhiều việc trong số này không có trong mô tả công việc, nhưng ở vùng xa, ranh giới giữa nhà trường và đời sống thôn bon rất mỏng.
Phụ huynh và nhà trường ở vùng hồ
Quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh ở điểm trường vùng sâu gần gũi hơn nhiều so với ở thành phố. Cô giáo biết nhà từng em, biết cha mẹ em đang làm vườn ở đâu, biết hôm nay nhà nào có việc. Phụ huynh nhiều khi mang lên trường bó rau, quả bơ, nải chuối như một cách cảm ơn, và cùng giáo viên sửa hàng rào, dọn sân khi có đợt mưa lớn.
Cái khó là thời gian và khoảng cách. Mùa vụ cha mẹ đi rẫy từ sáng sớm tới tối, khó dự họp phụ huynh; có gia đình không nói thạo tiếng Việt, việc trao đổi phải qua con lớn hoặc qua người trong thôn. Giáo viên giỏi ở đây thường chủ động đến nhà vào buổi tối, nói chuyện ngắn gọn, dùng ví dụ cụ thể về việc học của con thay vì những khái niệm chung.
Nhiều phụ huynh trẻ hiện nay đã học hết phổ thông, dùng điện thoại thông minh, nên nhóm nhắn tin của lớp trở thành kênh liên lạc mới. Dù vậy, với những gia đình ở thôn xa, sóng yếu, lời nhắn của cô qua người hàng xóm vẫn là cách hiệu quả. Chính mối quan hệ gần gũi ấy là điểm tựa để trẻ vùng hồ đi học đều và an tâm ở lớp. Khi phụ huynh tin cô giáo, họ sẵn lòng cho con đi học cả những ngày mưa, cả những tuần nhà đang bận hái cà phê.
Giúp trường vùng hồ đúng cách: nên và không nên
Nhiều người đến Tà Đùng muốn làm gì đó cho trẻ ở điểm trường. Thiện chí là quý, nhưng giúp sai cách có thể làm phiền nhà trường hoặc làm tổn thương trẻ. Bảng dưới tóm những điều giáo viên vùng sâu thường mong và thường ngại:
| Nên | Không nên | Vì sao |
|---|---|---|
| Liên hệ ban giám hiệu trường chính hoặc UBND xã trước | Tự đến điểm lẻ phát quà không báo | Trường biết nhu cầu thật và sắp xếp được giờ không ảnh hưởng việc học |
| Hỏi trường đang thiếu gì rồi mới chuẩn bị | Mang đồ theo ý mình, nhất là bánh kẹo nhiều đường | Thứ trường cần có thể là đồ dùng dạy học, giá sách, bồn rửa tay, áo ấm đúng cỡ |
| Trao quà kín đáo, qua giáo viên | Bắt trẻ xếp hàng chụp ảnh cầm quà | Ảnh phô trương làm trẻ và phụ huynh mất thể diện, đăng lên mạng khó gỡ |
| Giữ liên hệ lâu dài, hỗ trợ đều đặn | Đến một lần rồi thôi | Một tủ sách được bổ sung hằng năm có ích hơn một chuyến quà lớn |
| Minh bạch nguồn tiền, báo lại cho người góp | Quyên góp danh nghĩa trường khi trường không biết | Vận động quyên góp có quy định riêng và cần sự đồng ý của nhà trường |
Chi tiết về cách tổ chức thiện nguyện đúng luật, đúng nhu cầu được viết trong mục Chung tay và thiện nguyện của trang.
Vì sao có thầy cô ở lại, có thầy cô xin chuyển
Không ít giáo viên vùng sâu làm vài năm rồi xin chuyển về gần nhà, và điều đó dễ hiểu: xa gia đình, đường sá vất vả, thu nhập có phụ cấp nhưng không dư dả, con cái của chính họ cũng cần trường tốt. Ngành giáo dục có chế độ phụ cấp cho giáo viên công tác ở vùng đặc biệt khó khăn và chính sách luân chuyển, mức cụ thể theo quy định hiện hành.
Nhưng cũng có những thầy cô ở lại rất lâu, lấy chồng, lấy vợ ở địa phương, dựng nhà, trồng cà phê bên cạnh nghề dạy. Họ dạy cả hai thế hệ trong một gia đình, biết tên cha mẹ của gần hết học sinh, được mời dự đám cưới của học trò cũ. Với cộng đồng, những người như vậy là một phần của thôn bon.
Hỏi họ vì sao ở lại, câu trả lời thường giản dị: quen rồi, thương học trò, thấy mình có ích. Người từ nơi khác đến Tà Đùng nếu có dịp gặp một thầy cô như vậy, một lời cảm ơn chân thành và một chút tôn trọng dành cho công việc của họ có giá trị hơn nhiều so với mọi món quà.
Câu hỏi thường gặp
Điểm trường lẻ khác trường chính thế nào?
Trường chính đặt ở trung tâm xã, có đủ lớp, phòng chức năng và ban giám hiệu. Điểm lẻ là phân hiệu nhỏ đặt trong thôn xa, thường chỉ dạy mầm non hoặc các lớp tiểu học nhỏ, do giáo viên của trường chính phụ trách, giúp trẻ nhỏ học gần nhà.
Trẻ em ở Tà Đùng học bằng tiếng gì?
Trẻ học bằng tiếng Việt theo chương trình chung. Nhiều em người dân tộc thiểu số vào lớp khi mới nói tiếng mẹ đẻ, nên giai đoạn mầm non được chú trọng tăng cường tiếng Việt; giáo viên thường dùng tranh, bài hát và cả vài từ tiếng của trẻ để giúp các em bắt nhịp.
Muốn tặng sách vở, đồ dùng cho điểm trường thì liên hệ ai?
Liên hệ ban giám hiệu trường chính hoặc UBND xã Tà Đùng để hỏi nhu cầu thật và cách trao. Không nên tự đến điểm lẻ khi trường không biết; nhà trường sẽ sắp xếp thời gian phù hợp và ghi nhận minh bạch phần hỗ trợ.
Có nên chụp ảnh trẻ em khi đến thăm điểm trường không?
Chỉ chụp khi nhà trường đồng ý, tránh chụp cận mặt, không chụp cảnh trẻ cầm quà hay trong hoàn cảnh khó khăn để đăng lên mạng. Ảnh của trẻ em cần được bảo vệ; nếu đăng, nên che mặt và không ghi thông tin cá nhân.
Giáo viên vùng sâu có chế độ gì?
Giáo viên công tác ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng một số phụ cấp và ưu đãi theo quy định của Nhà nước. Mức cụ thể và điều kiện áp dụng thay đổi theo văn bản hiện hành, nên tra trên cổng thông tin của ngành giáo dục.
Mùa hái cà phê có ảnh hưởng tới việc đi học không?
Có. Một số gia đình muốn mang con theo lên rẫy hoặc nhờ con trông em, nên giáo viên thường phải đến từng nhà vận động trẻ đi học đều. Nhà trường và chính quyền xã đều nhắc phụ huynh không để trẻ nghỉ học vì mùa vụ.