TaDung.org
Con người và câu chuyện

Một năm của người trồng cà phê bên hồ Tà Đùng: việc từng mùa, nỗi lo từng tháng

Người trồng cà phê ở Tà Đùng làm gì từ mùa hoa tới mùa hái: tưới nước mùa khô, làm cỏ mùa mưa, thuê người hái cuối năm và những nỗi lo mà khách đi ngang vườn ít thấy.

Early morning on a steep coffee garden above a misty reservoir, a farmer couple carrying a hose and a hoe between rows of robusta bushes, wide shot from uphill, soft golden light

Một năm của người trồng cà phê ở Tà Đùng xoay theo hai mùa của Tây Nguyên: mùa khô, khoảng từ tháng 11 tới tháng 4, là mùa hái quả rồi tưới nước cho cây ra hoa; mùa mưa, khoảng từ tháng 5 tới tháng 10, là mùa bón phân, làm cỏ, tỉa cành và lo trái non đậu được. Cây chủ yếu là cà phê vối (robusta), thường trồng xen sầu riêng, bơ, mắc ca hoặc tiêu trên đất đồi đỏ quanh hồ, và gần như mọi việc đều làm bằng tay vì dốc.

Khách đi ngang thường chỉ thấy vườn cà phê xanh hay mùa hoa trắng thơm. Bài này kể từ phía người trồng: một năm làm những việc gì, việc nào nặng nhất, nỗi lo nằm ở đâu, và vì sao một gia đình ở đây không bao giờ thực sự nghỉ. Không có giá cà phê hay thu nhập cụ thể trong bài, vì những con số đó đổi theo từng năm và từng vườn. Phần kỹ thuật canh tác chuyên sâu thuộc về các trang chuyên về cà phê; ở đây là đời sống.

Tháng 11 tới tháng 1: mùa hái, cả nhà ra vườn

Khi quả cà phê vối chuyển đỏ dần, thường từ cuối tháng 10, đầu tháng 11, cả nhà bắt đầu ra vườn từ lúc trời còn sương. Người lớn trải bạt dưới gốc, tuốt từng cành, trẻ lớn phụ nhặt quả rơi, người già ở nhà nấu cơm mang lên rẫy. Vườn rộng thì phải thuê thêm người hái, thường là người trong thôn hoặc người từ nơi khác lên làm mùa. Nhiều nhà hái chín hai ba đợt để quả đều, nhà thiếu người thì tuốt một lần cho kịp.

Ở vùng đồi quanh hồ, cái khó của mùa hái là chở quả xuống. Bao cà phê tươi nặng, đường xuống dốc đất trơn sau mưa cuối mùa, nhiều nhà dùng xe máy cải tiến chở từng bao, có vườn phải vác bộ một đoạn. Quả hái xong phơi trên sân xi măng, trên bạt, hoặc bán tươi ngay cho điểm thu mua nếu nhà không đủ sân, đủ người. Quyết định phơi hay bán tươi phụ thuộc vào thời tiết, giá lúc ấy và sức của gia đình.

Đây cũng là mùa căng thẳng về tiền. Tiền phân, tiền thuê người hái, tiền vay mua vật tư từ đầu năm đều đến hạn trả trong mấy tuần này. Một trận mưa trái mùa làm quả nứt, rụng, hay một đợt giá xuống đúng lúc phải bán, đều ảnh hưởng tới cả năm của gia đình. Người trồng cà phê ở đây quen sống với cái bấp bênh đó, nhưng không có nghĩa là không lo.

Tháng 2 tới tháng 4: tưới nước, chờ hoa

Sau khi hái xong và để cây nghỉ một thời gian, người trồng cà phê bước vào mùa tưới. Cà phê vối cần một đợt khô hạn rồi một lượng nước đủ lớn để mầm hoa bung ra đồng loạt. Ở Tà Đùng, nguồn nước tưới là suối, giếng khoan, ao trữ đào trên vườn, và với những vườn sát mép hồ thì bơm từ hồ lên. Tưới vườn đồi rất cực: kéo ống dài qua các hàng cây, máy bơm chạy dầu hoặc chạy điện, người canh từng gốc, nhiều khi phải tưới đêm vì ban ngày điện yếu hoặc phải chờ lượt nước.

Khi hoa nở, cả vườn trắng và thơm trong vài ngày, đó là quãng khách thích chụp ảnh nhất. Với người trồng, đó là lúc nín thở: mưa to đúng lúc hoa nở làm hoa thối, nắng gắt làm hoa khô, thiếu nước đợt hai làm trái non rụng. Nhiều nhà phải tưới hai ba đợt cho một mùa hoa. Mùa khô nào kéo dài, nước suối cạn sớm, cả thôn có khi phải xếp lượt dùng nguồn nước chung, và chuyện chia nước trở thành chuyện hàng xóm.

Cuối mùa khô còn là mùa lo cháy. Cỏ khô, lá cà phê rụng dày dưới gốc, rừng xung quanh khô hanh, chỉ một đống lửa đốt rác sơ ý là có thể lan. Nhiều gia đình vừa tưới vừa canh lửa, và ở những thôn sát rừng, việc tuần tra phòng cháy là việc chung.

Tháng 5 tới tháng 7: mùa mưa đến, phân bón và cỏ

Mưa đầu mùa là lúc người trồng cà phê thở phào vì không phải tưới nữa, nhưng việc mới đến ngay. Đất ẩm là lúc bón phân để cây nuôi trái non và ra cành mới; nhiều nhà bón ba bốn đợt trong mùa mưa, có nhà dùng phân chuồng ủ, có nhà dùng phân hoá học, có nhà kết hợp. Phân phải gánh hoặc chở lên từng hàng, rải quanh gốc, lấp đất, việc này nặng và kéo dài nhiều ngày ở vườn đồi.

Cỏ mọc rất nhanh trong mùa mưa. Có nhà phát cỏ bằng máy cắt, có nhà để cỏ thấp làm thảm giữ đất chống xói mòn, có nhà vẫn dùng thuốc diệt cỏ dù biết không tốt cho đất và nguồn nước. Ở các vườn dốc sát hồ, xói mòn là nỗi lo thật: một trận mưa lớn có thể cuốn lớp đất mặt và phân vừa bón xuống hồ. Người làm lâu năm học cách làm bồn, đào rãnh ngang dốc, trồng cây che phủ để giữ đất.

Đây cũng là mùa đường đất trơn, xe khó lên vườn, việc chở phân, chở vật tư chậm hơn. Trẻ con đi học về thường phụ cha mẹ những việc nhẹ như nhặt cỏ quanh gốc non. Nhịp sinh hoạt trong thôn chậm lại vào những chiều mưa dầm, khi người ta ngồi ở hiên nhà sửa dụng cụ, nói chuyện về giá cả, về con cái.

Tháng 8 tới tháng 10: tỉa cành, nuôi trái và lo đường

Giữa mùa mưa, người trồng cà phê tỉa cành vượt, cành tăm, cành sâu bệnh để cây dồn sức nuôi trái và thông thoáng, đỡ nấm. Đây là việc cần mắt nghề: tỉa sai thì năm sau mất cành cho trái. Những người lớn tuổi trong thôn thường được hỏi ý, và kinh nghiệm truyền miệng giữa hàng xóm quan trọng không kém những lớp tập huấn của khuyến nông hay của đại lý vật tư.

Đây cũng là quãng người trồng chăm các cây trồng xen. Sầu riêng, bơ có mùa quả riêng và cần chăm riêng; tiêu cần buộc dây, tỉa chồi. Trồng xen giúp gia đình không phụ thuộc hoàn toàn vào một loại nông sản, nhưng cũng làm vườn đông việc hơn, cần nhiều vốn và nhiều công hơn. Khi giá một loại cây lên cao, không ít nhà chặt bớt cà phê để trồng cây đó, rồi lại phải tính lại khi giá đổi.

Cuối mùa mưa, nhiều gia đình bắt đầu sửa sân phơi, mua bạt, liên hệ người hái, vay thêm tiền nếu cần, để chuẩn bị một vòng mới. Họ cũng theo dõi mực nước hồ, thời tiết: những năm mưa lớn kéo dài, sạt lở đường lên thôn có thể làm chậm cả mùa hái.

Lịch một năm của vườn cà phê ven hồ, nhìn trong một bảng

Bảng dưới gom các việc chính theo tháng. Mốc tháng là gần đúng, mỗi năm xê dịch theo thời tiết và theo độ cao của từng vườn:

Thời gianViệc chínhNỗi lo lớn nhấtAi trong nhà làm
Tháng 11 – 1Hái, phơi hoặc bán quả tươiMưa trái mùa, giá lúc bán, thiếu người háiCả nhà, thuê thêm người
Tháng 2 – 4Tưới nước, chờ hoa, giữ trái nonThiếu nước, nắng hạn, cháy cỏNgười lớn, thường tưới cả đêm
Tháng 5 – 7Bón phân, làm cỏ, giữ đấtXói mòn, đường trơn, tiền vật tưNgười lớn, trẻ phụ việc nhẹ
Tháng 8 – 10Tỉa cành, chăm cây trồng xen, chuẩn bị mùa háiSâu bệnh, sạt lở, mưa kéo dàiNgười có kinh nghiệm, cả nhà

Nhìn bảng sẽ thấy không có tháng nào trống. Nếu một gia đình còn nuôi gà, heo, bò hay có thêm ao cá, thời gian rảnh còn ít hơn. Câu "nông dân có mùa nhàn" không đúng lắm với vườn cà phê đồi dốc.

Phụ nữ, người già và trẻ con trong một nhà trồng cà phê

Trong nhiều gia đình ở Tà Đùng, người phụ nữ gánh hai phần việc: ngoài vườn họ hái quả, làm cỏ, bón phân như đàn ông; về nhà họ lo cơm nước, con cái, sổ sách nợ phân, nợ tiền thuê người hái. Không ít nhà chính người vợ là người giữ tiền và quyết bán cà phê lúc nào, vì nhớ rõ từng khoản phải trả. Ở những hộ có chồng đi làm xa theo mùa, phụ nữ một mình cáng đáng cả vườn.

Người già ít ra vườn nặng nhưng vẫn có việc: trông cháu, nấu cơm mang lên rẫy, phơi cà phê trên sân, nhặt quả lép, canh gà vịt. Kinh nghiệm của họ về thời tiết, về giống cây, về cách tỉa cành thường được con cháu hỏi lại vào lúc khó. Ở các bon, người lớn tuổi còn là người nhắc nhở nếp đổi công giữa các nhà trong mùa hái.

Trẻ con lớn lên giữa vườn cà phê. Ngày nghỉ học mùa hái, trẻ lớn phụ nhặt quả rơi, trông em, mang nước cho cha mẹ. Việc này là một phần đời sống nông thôn, nhưng nhà trường và chính quyền vẫn nhắc các gia đình không để trẻ nghỉ học vì mùa vụ. Nhiều người trẻ ở đây kể rằng chính những mùa hái tuổi nhỏ khiến họ hiểu giá trị của từng ký cà phê, và khi đi học xa, đi làm xa, họ vẫn gọi về hỏi năm nay vườn được mùa không.

Những điều người ngoài ít thấy

Thứ nhất là sức lao động. Vườn đồi quanh hồ khó đưa máy móc vào, nên phần lớn việc vẫn làm bằng sức người. Một người trồng cà phê lâu năm thường có đôi tay chai, đầu gối mỏi, lưng đau, và họ không coi đó là chuyện đáng kể. Khi một người trong nhà ốm nặng hoặc bị tai nạn trong mùa vụ, cả gia đình chao đảo.

Thứ hai là quan hệ với người mua. Phần lớn hộ bán cà phê cho các đại lý, điểm thu mua trong vùng; nhiều nhà ứng trước phân bón, tiền mặt từ đại lý rồi trả bằng cà phê lúc thu hoạch. Mối quan hệ này vừa giúp vừa ràng buộc. Vài năm gần đây có thêm hợp tác xã, tổ hợp tác và những hộ trẻ tự rang, tự bán cà phê qua mạng, nhưng vẫn là số ít.

Thứ ba là niềm tự hào. Hỏi một người trồng cà phê ở đây về vườn của họ, rất nhiều người sẽ dẫn đi xem từng gốc, kể cây này trồng năm nào, cây kia ghép giống gì, năm nào được mùa. Khách muốn hiểu người Tà Đùng, đi một buổi theo nhà vườn và nghe họ kể sẽ học được nhiều hơn mọi bài giới thiệu. Nếu có dịp như vậy, hỏi trước, đi theo đúng việc họ đang làm, và đừng hái quả khi chưa được bảo.

Câu hỏi thường gặp

Cà phê ở Tà Đùng là loại gì?

Phần lớn vườn quanh hồ trồng cà phê vối, còn gọi là robusta, là loại cây phổ biến của vùng Đắk Nông cũ. Một số hộ thử giống mới hoặc trồng xen các cây khác; muốn biết chính xác giống của một vườn, cách tốt nhất là hỏi thẳng chủ vườn.

Mùa hoa cà phê ở Tà Đùng vào tháng mấy?

Hoa thường nở sau đợt tưới nước đầu tiên của mùa khô, rơi vào khoảng tháng 2 tới tháng 3, có năm sớm hoặc muộn hơn tuỳ thời tiết và lịch tưới từng vườn. Hoa chỉ nở rộ vài ngày, nên ai muốn ngắm cần hỏi người địa phương trước chuyến đi.

Mùa hái cà phê ở Tà Đùng kéo dài bao lâu?

Thường từ khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11 tới tháng 1 năm sau. Vườn thấp chín trước, vườn cao chín sau; nhà hái chín theo đợt sẽ kéo dài hơn nhà tuốt một lần. Đây là mùa bận nhất trong năm của người trồng.

Khách có thể vào vườn cà phê của người dân không?

Vườn là tài sản riêng, nên cần xin phép chủ vườn trước. Nhiều nhà sẵn lòng cho khách đi xem nếu được hỏi tử tế, nhất là khi khách đi cùng người quen trong vùng hoặc chủ nơi lưu trú. Đừng tự hái quả, bẻ cành hay giẫm lên gốc non.

Vì sao vườn cà phê ở đây hay trồng xen sầu riêng, bơ, mắc ca?

Trồng xen giúp gia đình không phụ thuộc vào một loại nông sản, có thêm nguồn thu vào những tháng khác nhau, cây cao còn che nắng gió cho cà phê. Đổi lại vườn đông việc và cần vốn hơn, nên mỗi nhà tự cân theo sức mình.

Người trồng cà phê ở Tà Đùng lo nhất điều gì?

Thời tiết và giá. Mưa trái mùa lúc hoa nở hoặc lúc hái, hạn kéo dài thiếu nước tưới, và giá xuống đúng lúc phải bán để trả nợ là ba nỗi lo lớn. Sức khoẻ của người lao động chính trong nhà cũng là chuyện ít ai nói nhưng ai cũng nghĩ tới.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83