Quanh hồ Tà Đùng có ba lớp cư dân sống đan xen: đồng bào bản địa M'Nông và Mạ, những người đã ở vùng núi này từ trước khi có hồ; đồng bào các dân tộc phía Bắc như Mông, Dao, Tày, Nùng vào lập nghiệp chủ yếu từ sau năm 1975, đông nhất trong các thập niên 1990–2000; và người Kinh từ nhiều tỉnh, từ miền Trung, miền Bắc đến các vùng lân cận ở Tây Nguyên. Ba lớp ấy làm cho một xã vùng hồ có nhiều tiếng nói, nhiều kiểu nhà, nhiều lịch lễ Tết hơn hẳn những gì khách thường hình dung khi chỉ nhìn ảnh đảo xanh giữa mặt nước.
Về địa giới, vùng hồ mà người ta quen gọi là hồ Tà Đùng nằm chủ yếu trên đất hai xã cũ Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cũ. Từ ngày 1/7/2025, hai xã này hợp thành xã Tà Đùng thuộc tỉnh Lâm Đồng. Bài này đi qua từng nhóm cư dân: ai là chủ nhân đầu tiên, ai đến sau và vì sao, mỗi nhóm giữ được gì, rồi gợi ý cách một người khách nhìn bức tranh ấy cho đúng. Bài không đưa tỷ lệ dân số từng dân tộc, vì số liệu cấp xã sau sáp nhập chưa được công bố đầy đủ và con số cũ của từng xã dễ gây hiểu lầm khi ghép lại.
Chủ nhân đầu tiên: người M'Nông và người Mạ
Vùng núi phía nam cao nguyên M'Nông, nơi về sau có hồ thủy điện Đồng Nai 3, vốn là địa bàn cư trú của người M'Nông và người Mạ. Cả hai thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, sống thành từng bon (làng) ven suối, ven rừng, làm rẫy luân canh, săn bắt, hái lượm và đánh cá trên sông Đồng Nai cùng các nhánh suối đổ về. Ranh giới giữa vùng cư trú của người M'Nông và người Mạ ở khu vực này không sắc nét: hai cộng đồng gần nhau về tiếng nói, về nếp làm rẫy, và qua nhiều đời có trao đổi, cưới hỏi với nhau.
Người M'Nông nổi bật với chế độ mẫu hệ: con mang họ mẹ, chàng rể về ở nhà vợ, của cải và tiếng nói trong nhà gắn nhiều với người phụ nữ lớn tuổi. Người Mạ, cư dân bản địa trải rộng hơn về phía Bảo Lộc, Di Linh, được biết đến với nghề dệt vải có đính hạt cườm và những bon làng ven sông Đồng Nai thượng nguồn. Cả hai đều có cồng chiêng, rượu cần, gùi, sử thi và truyện kể, các lễ gắn với mùa rẫy và với rừng, với nguồn nước.
Điều đáng nhớ với người mới đến: chữ "đồng bào bản địa" ở Tà Đùng trước hết là chỉ người M'Nông và người Mạ. Khi đọc một tấm ảnh hay một bài giới thiệu nói chung chung "người dân tộc ở Tà Đùng", nên hỏi lại là nhóm nào, vì phong tục của họ khác hẳn đồng bào từ phía Bắc vào.
Lớp người đến sau: đồng bào các dân tộc phía Bắc
Từ cuối thập niên 1970, và rõ nhất trong khoảng thập niên 1990 đến đầu những năm 2000, nhiều gia đình người Mông, Dao, Tày, Nùng từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn vào Tây Nguyên tìm đất. Một phần đi theo các chương trình kinh tế mới, phần lớn là di cư tự do: người đi trước báo tin về, người sau theo dòng họ, theo làng mà vào. Vùng Đắk Glong, đất rộng người thưa, rừng còn nhiều, trở thành một trong những nơi tiếp nhận đông người Mông nhất của Đắk Nông cũ, điều thường được nhắc trong các tài liệu về di dân ở Tây Nguyên.
Khác với người bản địa sống theo bon có sẵn, các nhóm đến sau lập thôn mới, nhiều thôn gần như chỉ một dân tộc, có khi chỉ vài dòng họ. Thời gian đầu thiếu điện, thiếu đường, thiếu trường lớp; nhiều gia đình dựng nhà tạm trên đồi, phát rẫy trồng ngô, lúa nương rồi chuyển dần sang cà phê, hồ tiêu khi có vốn. Những năm sau, chính quyền các cấp làm nhiều đợt ổn định dân di cư tự do, quy hoạch điểm dân cư, kéo điện, mở đường.
Ngày nay ở vùng hồ có những thôn mà khách đi qua sẽ nghe tiếng Mông trên đường, thấy váy xếp nếp phơi trước hiên, hay dịp cuối năm âm lịch thấy người chơi ném pao. Đó không phải "văn hoá Tây Nguyên" theo nghĩa hẹp, mà là văn hoá vùng núi phía Bắc được mang vào và sống tiếp trên đất đỏ phương Nam.
Người Kinh nhiều miền và những cư dân mới
Người Kinh ở Tà Đùng cũng đến theo nhiều đợt. Có người vào từ thời kinh tế mới sau 1975, có gia đình từ các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Thanh Hoá vào theo họ hàng, có người từ các huyện lân cận trong Tây Nguyên chuyển sang khi giá cà phê lên. Họ mở quán tạp hoá, làm đại lý nông sản, vật tư, sửa xe, chạy xe khách, và về sau làm nhà nghỉ, homestay, chèo thuyền đưa khách trên hồ.
Từ khoảng giữa thập niên 2010, khi hình ảnh hồ nhiều đảo được biết đến rộng rãi và hay được gọi là "Vịnh Hạ Long của Tây Nguyên", thêm một lớp cư dân nữa xuất hiện: người thành phố lên mua đất, dựng nhà nghỉ dưỡng, làm homestay, hoặc ở theo mùa. Lớp người này còn mỏng nhưng ảnh hưởng nhiều đến diện mạo vùng hồ, từ kiểu nhà đến nhịp sống cuối tuần.
Với văn hoá bản địa, sự có mặt của người Kinh và cư dân mới vừa mở ra cơ hội, như có thêm khách mua thổ cẩm, có thêm việc làm, vừa tạo sức ép: đất rẫy đổi chủ, lớp trẻ đồng bào quen dần tiếng Kinh và nhịp sống theo khách. Đây là bối cảnh cần hiểu khi đọc các bài khác trong chuyên mục này.
Bảng nhận diện nhanh các nhóm cư dân quanh hồ
Bảng dưới chỉ là đường nét chung để khách khỏi lẫn lộn; từng gia đình, từng thôn có thể khác, nhất là ở những nơi đã sống xen cư lâu năm.
| Nhóm | Có mặt từ | Đơn vị cư trú truyền thống | Dấu hiệu văn hoá dễ thấy |
|---|---|---|---|
| M'Nông | Bản địa, từ rất lâu | Bon | Mẫu hệ, cồng chiêng, rượu cần, gùi, thổ cẩm nền chàm |
| Mạ | Bản địa, từ rất lâu | Bon | Dệt vải đính hạt cườm, cồng chiêng, làm rẫy ven sông |
| Mông | Chủ yếu thập niên 1990–2000 | Thôn theo dòng họ | Khèn, ném pao, váy xếp nếp, Tết Mông sớm hơn Tết Nguyên đán |
| Dao | Sau 1975, nhiều nhất thập niên 1990 | Thôn, xóm | Thêu trên vải chàm, đồ bạc, lễ cấp sắc |
| Tày, Nùng | Sau 1975, theo nhiều đợt | Thôn, xóm | Hát then, đàn tính, xôi nhiều màu, áo chàm |
| Kinh | Sau 1975 đến nay | Thôn, khu dân cư ven đường | Buôn bán, dịch vụ, nông sản, lưu trú |
Ngoài các nhóm trên, vùng Đắk Glong cũ còn có đồng bào một số dân tộc khác với số lượng ít hơn; khi không chắc một người thuộc dân tộc nào, cách lịch sự nhất là hỏi thẳng và nhẹ nhàng, thay vì đoán qua trang phục.
Sống chung: xen cư, cưới hỏi và tiếng phổ thông
Sau vài chục năm, ranh giới giữa các nhóm mềm đi. Trẻ em M'Nông, Mông, Dao, Kinh học chung một điểm trường; người lớn gặp nhau ở chợ, ở đại lý cà phê, ở các buổi họp thôn. Tiếng phổ thông là tiếng chung, nhưng trong nhà nhiều gia đình vẫn nói tiếng mẹ đẻ, và người già ở một số bon nói tiếng Kinh chưa thạo. Cưới hỏi giữa các dân tộc ngày càng nhiều, kéo theo những gia đình phải dung hoà nếp mẫu hệ với phụ hệ, Tết Mông với Tết Nguyên đán.
Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng cũng đa dạng như ở nhiều xã vùng cao Tây Nguyên: có gia đình giữ tín ngưỡng truyền thống thờ thần núi, thần nước, thần lúa; có gia đình theo đạo Tin Lành hoặc Công giáo; có gia đình thờ cúng tổ tiên theo nếp người Kinh. Với khách, điều cần nhớ đơn giản: không hỏi dò, không bình phẩm, và khi được mời dự một nghi lễ thì làm theo hướng dẫn của chủ nhà.
Sống chung cũng có va chạm, chủ yếu quanh chuyện đất đai, nguồn nước, và khoảng cách thu nhập giữa người làm dịch vụ với người làm rẫy. Những va chạm ấy thường được giải quyết ở cấp thôn, bon, với vai trò của già làng, trưởng thôn và những người có uy tín trong cộng đồng.
Nhìn bức tranh cư dân cho đúng: vài lưu ý cho khách
Đừng gọi chung là "người Thượng". Cách gọi này đã cũ và gom nhiều dân tộc khác nhau vào một chữ. Gọi đúng tên dân tộc, hoặc nói "đồng bào" là đủ lịch sự.
Đừng coi văn hoá đồng bào là đồ trưng bày. Cồng chiêng, thổ cẩm, lễ hội là đời sống của người ta, có lúc thiêng, có lúc vui, không phải lúc nào cũng dành cho khách xem.
Đừng mặc định ai nghèo, ai giàu theo dân tộc. Ở vùng hồ có gia đình đồng bào trồng cà phê, sầu riêng rất bài bản, cũng có gia đình người Kinh vất vả. Định kiến làm hỏng mọi cuộc trò chuyện.
Hỏi trước khi chụp người. Nhất là người già, trẻ nhỏ và phụ nữ đang làm việc. Một câu hỏi và một nụ cười mở ra nhiều hơn một ống kính dài.
Tìm hiểu trước khi đến. Đọc về các nhóm cư dân giúp khách đặt câu hỏi đúng, nghe được những điều người dân thật sự muốn kể, thay vì chỉ thấy cảnh hồ.
Vì sao bức tranh nhiều dân tộc làm Tà Đùng đáng nhớ
Những người làm du lịch lâu năm ở vùng hồ hay nói rằng khách quay lại Tà Đùng lần thứ hai, thứ ba hiếm khi vì cảnh. Họ quay lại vì đã quen một gia đình, đã ăn một bữa cơm ở nhà ai đó, đã được nghe chuyện ngày xưa từ một người già. Cảnh hồ mở cửa cho chuyến đi đầu, còn con người giữ chân người ta những lần sau.
Một vùng hồ đẹp có thể có ở nhiều nơi. Điều làm Tà Đùng khác là trong một xã, khách có thể nghe tiếng chiêng của người M'Nông, thấy chiếc khèn Mông, ăn bữa cơm có món của người Tày, rồi uống cà phê của một gia đình người Quảng vào lập nghiệp ba mươi năm trước. Văn hoá ở đây không đứng yên trong bảo tàng mà đang sống, đang đổi thay, đôi lúc mai một, đôi lúc được làm mới.
Với cộng đồng người yêu Tà Đùng, hiểu bức tranh này là bước đầu để gắn bó lâu hơn một chuyến chơi: biết mình đang làm khách của ai, biết tôn trọng điều gì, và biết nếu muốn góp sức thì góp vào đâu cho đúng. Các bài tiếp theo trong chuyên mục đi sâu vào từng nhóm, từng lớp văn hoá: bon làng, người Mông, người Dao, Tày, Nùng, cồng chiêng, lễ hội nông lịch, thổ cẩm, món ăn, hôn nhân gia đình và du lịch cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
Dân tộc nào là bản địa ở Tà Đùng?
Người M'Nông và người Mạ là cư dân bản địa của vùng núi quanh hồ Tà Đùng, sống thành bon từ trước khi có hồ thủy điện. Các dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng và người Kinh đến sau, chủ yếu từ sau năm 1975, đông nhất là giai đoạn thập niên 1990 đến đầu những năm 2000.
Người Mông ở Tà Đùng từ đâu vào?
Phần lớn từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, đi theo dòng họ, theo làng, nhiều gia đình là di cư tự do. Vùng Đắk Glong cũ là nơi tiếp nhận đông người Mông của Đắk Nông cũ, nên ngày nay ở vùng hồ có nhiều thôn người Mông.
Có số liệu tỷ lệ từng dân tộc ở xã Tà Đùng mới không?
Xã Tà Đùng mới hình thành ngày 1/7/2025 từ Đắk Som và Đắk R'Măng, số liệu dân số theo dân tộc của xã mới chưa được công bố đầy đủ. Muốn có số chính xác, nên hỏi UBND xã Tà Đùng hoặc tra niên giám thống kê của tỉnh Lâm Đồng khi có bản cập nhật.
Khách đến Tà Đùng có dễ gặp đồng bào để trò chuyện không?
Có, ở chợ, ở bến thuyền, ở các homestay do gia đình đồng bào làm, hay khi đi qua các thôn. Cách tốt nhất là đi cùng người địa phương quen biết, hỏi han nhẹ nhàng, không tò mò quá sâu vào chuyện riêng và không chụp ảnh khi chưa xin phép.
Tà Đùng thuộc tỉnh nào sau sáp nhập?
Từ ngày 1/7/2025, xã Tà Đùng gồm hai xã cũ Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cũ, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng. Cấp huyện đã bỏ, nên giấy tờ mới ghi xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng.
Văn hoá của đồng bào phía Bắc ở Tà Đùng có khác quê gốc không?
Có giữ và có đổi. Các gia đình vẫn giữ tiếng nói, lễ Tết, cách thêu dệt, nhưng nương ngô nhường chỗ cho cà phê, nhà cửa theo kiểu mới, và nhiều nghi lễ được rút gọn cho hợp với khí hậu, đất đai, nhịp làm ăn ở Tây Nguyên.