TaDung.org
Sinh kế và doanh nghiệp địa phương

Sống nhờ mặt hồ: nghề cá, cá lồng và giữ nguồn cá chung của cư dân Tà Đùng

Cư dân ven hồ Tà Đùng làm nghề cá thế nào: đánh bắt bằng lưới, câu, nuôi cá lồng, bán cá cho ai, rủi ro mực nước và vì sao giữ nguồn cá chung là việc của cộng đồng.

Early morning on a misty highland reservoir, a lone fisherman in a small wooden boat pulling a gill net near a forested islet, still water, cool blue tones, seen from a distance

Với cư dân ven hồ Tà Đùng, nghề cá phần lớn là nghề phụ bên cạnh vườn: đàn ông thả lưới, đặt lờ, câu cá lúc sáng sớm hay chiều tối, một số hộ và cơ sở nuôi cá lồng ở vùng nước kín gió; cá bán cho quán ăn, người buôn trong vùng hoặc để gia đình ăn. Ít hộ sống hoàn toàn bằng nghề cá, nhưng với nhiều gia đình ít đất, mặt hồ là nguồn đạm và tiền mặt quan trọng.

Hồ ở đây là hồ chứa của thủy điện Đồng Nai 3, hình thành khi đập tích nước vào đầu thập niên 2010, nhấn chìm thung lũng và biến các đỉnh đồi thành đảo. Nghề cá trên hồ vì thế là nghề còn trẻ, lớn lên cùng mặt hồ, và phải thích nghi với một mặt nước lên xuống theo lịch vận hành của nhà máy chứ không theo con nước tự nhiên.

Bài viết nhìn nghề cá từ phía người làm nghề: họ làm như thế nào, bán cho ai, gặp rủi ro gì, và vì sao chuyện giữ nguồn cá là việc chung chứ không riêng của ai.

Ai làm nghề cá và làm vào lúc nào

Người làm nghề cá quanh hồ thường là cư dân sống ở những thôn sát mép nước, trong đó có các gia đình từng sống ở vùng nay đã thành lòng hồ. Phần lớn đàn ông làm vườn ban ngày, tranh thủ thả lưới chiều và thu lưới sáng hôm sau; phụ nữ lo làm cá, mang ra chợ hoặc giao cho quán. Một số người trẻ ít đất, chưa có vườn, đi đánh cá thường xuyên hơn.

Nghề cá rộ vào những lúc nông nhàn, như sau mùa hái cà phê hay giữa mùa mưa khi vườn đã bón phân xong. Ngược lại, vào mùa hái hoặc những tuần tưới nước căng thẳng, ít người còn thời gian ra hồ. Điều đó cho thấy nghề cá ở đây gắn chặt với lịch vườn, như một tấm đệm thu nhập chứ không phải nghề chính.

Phương tiện phổ biến là xuồng nhỏ, thuyền gỗ hoặc thuyền tôn, có máy hoặc chèo tay. Ngư cụ quen thuộc là lưới bén thả qua đêm, lờ, câu tay và câu giăng. Mỗi thôn, mỗi nhóm thường có những vùng nước quen, những khúc hồ ít gió nơi cá hay về, và người trong nghề ngầm hiểu nhau về chỗ thả lưới để tránh va chạm.

Mặt hồ thủy điện khác sông suối tự nhiên ở chỗ nào

Mực nước lên xuống theo vận hành. Mực nước hồ thường hạ thấp về cuối mùa khô và dâng lên trong mùa mưa. Biên độ lớn làm thay đổi vùng cá đẻ, vùng cá kiếm ăn và cả vị trí đặt lưới. Người làm nghề phải dời chỗ liên tục theo mép nước.

Đáy hồ là đất rừng cũ. Dưới mặt hồ còn gốc cây, bụi rậm, nền nhà cũ. Lưới dễ mắc vào gốc cây chìm; vùng nước có nhiều gốc cây lại là nơi cá trú ẩn. Người lạ thả lưới ở vùng không quen dễ mất lưới.

Nước sâu và lạnh ở tầng dưới. Hồ chứa sâu hơn nhiều so với suối cũ, nước tầng dưới lạnh và ít ôxy. Cá thường tập trung ở tầng mặt và ven bờ, nhất là vùng nước nông gần các nhánh suối đổ vào.

Loài cá thay đổi theo thời gian. Khi sông biến thành hồ, những loài cá quen nước chảy giảm dần, những loài hợp với nước tĩnh tăng lên, cùng với cá thả nuôi thoát ra từ lồng. Thành phần loài cụ thể thay đổi theo năm và chưa có nhiều khảo sát công khai cho riêng vùng hồ này.

Nuôi cá lồng: vốn, kỹ thuật và rủi ro mùa nước

Nuôi cá lồng trên hồ chứa là mô hình được nhiều địa phương có hồ thủy điện ở Tây Nguyên khuyến khích, và quanh Tà Đùng cũng có hộ, cơ sở làm. Các loài thường được nuôi lồng ở hồ chứa vùng cao là cá rô phi, cá diêu hồng, cá lăng, cá trắm, tuỳ vốn và đầu ra. Lồng đặt ở vùng nước kín gió, đủ sâu, có dòng chảy nhẹ và đường lên bờ thuận tiện.

Đây không phải nghề vốn nhỏ. Làm lồng, phao, dây neo, mua con giống, thức ăn công nghiệp là các khoản lớn, trong khi phải đợi nhiều tháng mới thu. Người nuôi phải theo dõi nước hằng ngày, nhất là khi trời chuyển mùa, khi nước hồ thay đổi đột ngột hoặc sau mưa lớn nước đục. Cá chết hàng loạt vì thiếu ôxy, vì bệnh hay vì nước xấu là rủi ro thật, có thể làm mất cả vụ.

Về giấy tờ, theo Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn, cơ sở nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè phải đăng ký và tuân theo quy định về vị trí đặt lồng, quản lý môi trường; trên hồ chứa thủy điện còn có quy định riêng của đơn vị quản lý hồ. Người muốn làm nên hỏi UBND xã Tà Đùng và cơ quan chuyên môn nông nghiệp trước, vì quy định có thể đã thay đổi sau sắp xếp hành chính năm 2025.

Cá bán cho ai và đi đâu

Cá đánh bắt tự nhiên phần nhiều bán ngay trong vùng: cho các quán ăn phục vụ khách du lịch, cho người buôn đi chợ, cho hàng xóm. Khách đến Tà Đùng thường muốn ăn cá hồ, nên những quán ven hồ là đầu ra quan trọng, nhất là vào cuối tuần và mùa khách đông. Một số hộ làm khô cá, cá một nắng để bán làm quà.

Cá nuôi lồng thì khác: số lượng lớn, cần đầu ra ổn định, nên người nuôi thường có thương lái quen đến tận lồng thu mua, chở đi các chợ đầu mối hoặc nhà hàng ở thị trấn, thành phố. Giá phụ thuộc vào loài cá, kích cỡ, mùa và lượng cá từ các hồ khác cùng đổ về chợ.

Một thay đổi tích cực là ngày càng nhiều khách du lịch muốn biết cá mình ăn đến từ đâu. Quán nào nói rõ cá đánh bắt tự nhiên hay cá nuôi, lấy từ hộ nào, thường được khách tin hơn. Với người làm nghề, đó là lý do để giữ chất lượng thay vì chạy theo số lượng.

Những cách đánh bắt bị cấm và vì sao cộng đồng nên tự giữ

Mặt hồ là nguồn lợi chung. Khi một vài người khai thác tận diệt, cả cộng đồng mất phần. Theo Luật Thủy sản và các quy định hiện hành, một số cách khai thác bị cấm hoặc hạn chế, trong đó có:

  • Dùng xung điện, chất nổ, chất độc để đánh bắt: giết sạch cá con, cá mẹ, nguy hiểm cho người và làm ô nhiễm nước.
  • Dùng lưới có mắt lưới quá nhỏ so với quy định, quét cả cá chưa trưởng thành.
  • Đánh bắt ở khu vực, thời gian cấm do cơ quan có thẩm quyền công bố, ví dụ vùng cá đẻ trong mùa sinh sản nếu có quy định.
  • Đặt ngư cụ cố định chắn ngang luồng lạch, cản trở giao thông thủy và cá di chuyển.
  • Đánh bắt trong vùng lõi rừng đặc dụng hoặc khu vực hạn chế của đơn vị quản lý hồ mà không được phép.

Ở nhiều hồ chứa trong nước, các tổ cộng đồng đồng quản lý nghề cá đã ra đời: người làm nghề tự đặt quy ước về mắt lưới, vùng cấm, mùa nghỉ, cùng tuần tra và báo chính quyền khi có người dùng xung điện. Mô hình này phù hợp với hồ Tà Đùng, nơi người ven hồ hiểu mặt nước hơn ai hết. Mức xử phạt và vùng cấm cụ thể cần kiểm theo quy định hiện hành.

An toàn trên hồ: rủi ro mà người làm nghề biết rõ nhất

Người đánh cá đối mặt với rủi ro mỗi ngày: gió chiều nổi sóng bất ngờ trên vùng hồ rộng, xuồng nhỏ dễ lật, nước hồ sâu và lạnh ngay sát bờ, gốc cây chìm làm thủng đáy thuyền. Đi đêm thả lưới hay thu lưới trong sương sớm lại càng nguy hiểm khi tầm nhìn kém.

Kinh nghiệm của người trong nghề là không ra hồ khi trời chuyển giông, luôn có áo phao trên xuồng dù quen nước, báo người nhà vùng mình sẽ đi và giờ dự kiến về, không đi một mình ra vùng xa. Những nguyên tắc này cũng nên được truyền cho người trẻ mới vào nghề và cho khách đi theo trải nghiệm đánh cá cùng người dân.

Mùa mưa, khi nhà máy xả lũ hoặc nước về nhanh, mặt hồ có thể thay đổi rất nhanh. Người làm nghề cá lồng cần theo dõi thông báo của chính quyền và đơn vị vận hành để gia cố lồng, dời lồng khi cần.

Từ người làm ruộng thung lũng thành người làm nghề trên hồ

Trước khi có hồ, các thung lũng ven sông Đồng Nai trong vùng là nơi có ruộng, vườn, nhà cửa của nhiều hộ. Khi thủy điện tích nước, một phần cư dân phải di dời, tái định cư lên vùng cao hơn hoặc đến nơi ở mới. Với những gia đình đã quen làm ruộng nước, sống cạnh sông, chuyện chuyển sang làm vườn đồi không hề dễ; một số người tìm đến mặt hồ như một cách tiếp tục sống cạnh nước.

Họ học nghề cá gần như từ đầu: học đọc gió, đọc mực nước, học chỗ cá về theo mùa, học đóng xuồng, đan lưới. Kinh nghiệm truyền qua người quen, qua những người từng làm nghề ở các hồ chứa khác. Nghề cá trên hồ vì thế mang theo một phần ký ức của vùng đất cũ và một phần sự thích nghi của con người với cảnh quan mới.

Câu chuyện tái định cư và đất sản xuất có nhiều lớp phức tạp hơn những gì một bài về nghề cá kể được; chuyên mục ký ức lòng hồ của trang dành riêng cho chủ đề này. Ở đây chỉ cần nhớ rằng với một số gia đình, mặt hồ không chỉ là cảnh đẹp mà là nơi họ phải bắt đầu lại.

Nghề cá trong tương lai của vùng hồ

Khi du lịch phát triển, nghề cá quanh hồ có thể mở thêm hướng: trải nghiệm thả lưới, câu cá cùng ngư dân, bữa cá hồ ở nhà dân. Làm tốt, hướng này giúp người làm nghề có thêm thu nhập mà không phải khai thác nhiều hơn. Nhưng nó cần sự an toàn, giấy tờ và tôn trọng nguồn lợi, không biến thành câu cá tận diệt để phục vụ khách.

Một hướng khác là gia tăng giá trị cho con cá: làm sạch, sơ chế, đóng gói đúng cách, làm khô, làm chả, bán kèm câu chuyện về nơi đánh bắt. Hướng này cần điều kiện an toàn thực phẩm và thường hiệu quả hơn khi các hộ liên kết thành tổ, hợp tác xã thay vì làm riêng lẻ.

Với khách và người muốn đồng hành cùng cư dân, những việc nhỏ có ích: ăn cá ở quán của người địa phương, hỏi rõ nguồn gốc cá, không mua cá con hay cá đánh bằng xung điện, không vứt rác và dây câu xuống hồ. Người đến Tà Đùng tìm cảnh hồ đẹp thì cũng nên biết rằng có những gia đình đang sống nhờ mặt nước ấy.

Câu hỏi thường gặp

Hồ Tà Đùng có những loại cá gì?

Hồ có các loài cá nước ngọt quen thuộc của hồ chứa vùng cao, cùng các loài được thả nuôi như rô phi, diêu hồng, cá lăng. Thành phần loài thay đổi theo năm và chưa có nhiều khảo sát công khai cho riêng vùng hồ, nên khó nói chắc danh sách đầy đủ.

Người ngoài có được câu cá trên hồ Tà Đùng không?

Câu cá giải trí thường được chấp nhận ở những nơi không cấm, nhưng nên hỏi chủ nhà, chủ bến hoặc chính quyền xã về vùng được câu. Không câu trong vùng lõi rừng đặc dụng, khu vực hạn chế của đơn vị quản lý hồ hay gần lồng cá của người khác.

Nuôi cá lồng trên hồ thủy điện có cần xin phép không?

Có. Theo Luật Thủy sản, cơ sở nuôi lồng bè phải đăng ký, ngoài ra còn phải tuân theo quy định quản lý hồ chứa của đơn vị vận hành. Người muốn nuôi nên hỏi UBND xã và cơ quan chuyên môn nông nghiệp để biết thủ tục hiện hành.

Vì sao đánh cá bằng xung điện bị cấm?

Xung điện giết cả cá con, cá mẹ và sinh vật khác trong vùng nước, làm cạn kiệt nguồn lợi, đồng thời rất nguy hiểm cho chính người dùng và người xung quanh. Luật Thủy sản cấm hành vi này và có chế tài xử phạt theo quy định hiện hành.

Mua cá hồ Tà Đùng ở đâu cho đúng?

Có thể mua ở các quán ven hồ, chợ trong xã hoặc trực tiếp từ hộ làm nghề qua giới thiệu của chủ nhà nơi bạn ở. Hỏi rõ cá đánh bắt tự nhiên hay cá nuôi, đánh bắt khi nào, và không mua cá con hay cá có dấu hiệu đánh bằng xung điện.

Nghề cá có phải sinh kế chính của người Tà Đùng không?

Không. Với phần lớn hộ, nghề cá là nghề phụ bên cạnh vườn cà phê và cây ăn trái. Chỉ một số ít gia đình ven hồ, ít đất, sống chủ yếu bằng đánh bắt hoặc nuôi cá lồng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83