Người dân Tà Đùng chủ yếu sống bằng vườn: cà phê vối là cây nền, xen hồ tiêu, sầu riêng, bơ, mắc ca và các cây ăn trái khác trên đất đồi đỏ quanh hồ. Bên cạnh vườn, nhiều hộ có thêm một hoặc hai nguồn thu phụ: đánh bắt và nuôi cá trên hồ, nhận khoán giữ rừng, đi làm công theo mùa, chở thuyền hoặc đón khách du lịch tại nhà.
Tà Đùng ở đây là xã Tà Đùng mới của tỉnh Lâm Đồng, hình thành từ ngày 1/7/2025 trên địa bàn hai xã Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong (tỉnh Đắk Nông cũ). Người ngoài biết đến nơi này qua mặt hồ nhiều đảo nhỏ, nhưng với cư dân, hồ chỉ là một phần của sinh kế; phần lớn ngày làm việc vẫn diễn ra trên sườn đồi trồng cây.
Bài này đi qua từng nguồn sống chính của hộ dân, cách các nguồn ấy ghép với nhau thành một năm làm ăn, và những thay đổi mà người trong vùng đang gặp. Mục đích là để người sắp đến, người muốn gắn bó hay người làm thiện nguyện hiểu đúng đời sống ở đây, thay vì chỉ nhìn qua ống kính du lịch.
Vườn đồi: nguồn thu lớn nhất của phần đông hộ dân
Gần như nhà nào làm nông quanh hồ Tà Đùng cũng có vườn cà phê vối. Cây hợp với đất đỏ bazan trên đồi, hợp với khí hậu có mùa khô rõ để phân hoá hoa, và quan trọng nhất là hạt cà phê khô để được lâu, chở đi xa không hỏng, lúc nào cũng có người mua. Với những hộ đến lập nghiệp trên đất dốc xa chợ, đó là cây trồng an toàn nhất trong nhiều năm.
Cà phê hiếm khi đứng một mình. Hồ tiêu leo trụ trong vườn, sầu riêng và bơ trồng xen làm cây che bóng, mắc ca ở một số vườn, thêm chuối, mít, chanh dây ở bìa vườn. Cách trồng xen này vừa tận dụng đất dốc vốn không rộng, vừa giúp hộ dân không phụ thuộc vào giá của một loại nông sản. Từ khi sầu riêng tươi được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc năm 2022, nhiều hộ trong vùng Tây Nguyên trồng thêm sầu riêng, và quanh Tà Đùng cũng không ngoại lệ.
Đất vườn ở đây phần lớn nằm trên sườn đồi, nhiều thửa phải đi bộ hoặc chạy xe máy theo đường đất mới tới. Điều đó làm chi phí lao động cao hơn vùng bằng phẳng: phân bón, nước tưới và nông sản đều phải gùi, chở lên xuống dốc. Một hộ có vườn rộng nhưng xa đường lớn không hẳn khá hơn một hộ có vườn nhỏ ngay mặt đường.
Mặt hồ: nghề cá, cá lồng và chở thuyền
Đánh bắt tự nhiên. Từ khi hồ thủy điện Đồng Nai 3 tích nước, mặt hồ rộng trở thành nơi một số hộ ven bờ thả lưới, đặt lờ, câu cá. Đây thường là nghề phụ, làm vào lúc nông nhàn hoặc buổi sớm trước khi lên vườn; cá bán cho quán ăn, cho người buôn trong vùng hoặc để nhà ăn.
Nuôi cá lồng. Một số hộ và cơ sở nuôi cá lồng ở các vùng nước kín gió. Nghề này cần vốn làm lồng, mua giống, thức ăn, và chịu rủi ro theo mực nước hồ lên xuống trong năm, nên không phải hộ nào cũng làm được.
Chở khách bằng thuyền. Khi khách du lịch tìm đến ngắm đảo, nghề chở thuyền ra đời. Người lái thuyền thường là cư dân ven hồ quen luồng nước; thu nhập phụ thuộc mạnh vào cuối tuần, ngày lễ và thời tiết. Phần an toàn và giấy tờ của nghề này được bàn riêng trong một bài khác của chuyên mục.
Hồ cũng là giới hạn. Mặt hồ chia cắt đường đi giữa các thôn, nhiều vùng đất cũ nay nằm dưới nước. Với một số gia đình, hồ gắn với chuyện tái định cư và đổi đất sản xuất, nên nói hồ chỉ mang lại sinh kế mới là chưa đủ.
Rừng: nhận khoán, làm việc dưới tán và những giới hạn
Xã Tà Đùng có diện tích rừng lớn, trong đó có rừng đặc dụng của Vườn quốc gia Tà Đùng và rừng phòng hộ quanh hồ. Một phần hộ dân, nhất là đồng bào sống lâu năm gần rừng, nhận khoán bảo vệ rừng với ban quản lý hoặc chủ rừng. Tiền khoán phần lớn đến từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó các nhà máy thủy điện trả tiền cho việc rừng giữ nước đầu nguồn.
Khoản này không lớn so với thu nhập từ vườn, nhưng đều đặn và gắn người dân với việc giữ rừng: đi tuần, báo cháy, ngăn người vào chặt phá. Ngoài ra, một số hộ trồng rừng sản xuất trên đất được giao, làm công trồng và chăm rừng, hoặc thu hái lâm sản phụ ở nơi được phép.
Giới hạn cũng rõ: rừng đặc dụng không được khai thác, không được lấn làm rẫy, và việc vào rừng phải theo quy định của ban quản lý. Những năm gần đây, chuyện phá rừng làm rẫy còn bị nhìn qua lăng kính thị trường xuất khẩu, vì nông sản trồng trên đất mới phá rừng ngày càng khó bán sang các thị trường khó tính.
Làm công, buôn bán nhỏ và dịch vụ
Không phải ai ở Tà Đùng cũng có vườn. Người mới đến, người trẻ chưa có đất, hộ có ít đất thường đi làm công: hái cà phê mùa cuối năm, làm cỏ, bón phân, tưới nước mùa khô, phụ hồ khi có nhà xây. Mùa hái là lúc thiếu người nhất, nhiều chủ vườn phải thuê người từ nơi khác tới.
Buôn bán nhỏ là lớp sinh kế thứ ba: tiệm tạp hoá ở trung tâm thôn, quán ăn, quán cà phê ven đường, đại lý vật tư nông nghiệp, điểm thu mua nông sản, tiệm sửa xe máy. Khi khách du lịch tăng, thêm quán ăn phục vụ khách, người bán nông sản tại vườn, xe ôm và xe đưa đón.
Theo danh bạ doanh nghiệp của trang tại thời điểm viết, nhóm đơn vị đông nhất ở xã Tà Đùng là bán buôn nông, lâm sản, tiếp đến nông nghiệp, xây dựng và một ít du lịch, lưu trú. Bức tranh này khớp với đời thường: phần lớn tiền trong xã chảy qua nông sản, rồi mới tới các dịch vụ xung quanh nó.
Các nguồn sống chính và đặc điểm của từng nguồn
Bảng dưới gom các nguồn sống phổ biến của hộ dân quanh hồ theo mức độ phổ biến, tính mùa vụ và rủi ro chính. Đây là mô tả định tính dựa trên đặc điểm chung của vùng, không phải số thống kê.
| Nguồn sống | Mức phổ biến | Tính mùa vụ | Rủi ro chính |
|---|---|---|---|
| Cà phê vối | Rất phổ biến | Hái cuối năm, tưới mùa khô | Giá lên xuống, hạn cuối mùa khô |
| Hồ tiêu | Phổ biến, xen cà phê | Thu đầu năm | Bệnh hại, trụ đổ, giá biến động |
| Sầu riêng, bơ, mắc ca | Tăng dần | Thu giữa và cuối mùa mưa | Vốn lớn, chờ nhiều năm, thời tiết |
| Đánh bắt, nuôi cá | Hộ ven hồ | Theo mực nước hồ | Mực nước, dịch bệnh cá, quy định khai thác |
| Nhận khoán giữ rừng | Một phần hộ gần rừng | Đều quanh năm | Phụ thuộc chính sách, khoản thu nhỏ |
| Làm công | Hộ ít đất, người trẻ | Đông nhất mùa hái | Thu nhập thất thường, không bảo hiểm |
| Dịch vụ du lịch | Đang tăng | Cuối tuần, lễ, mùa khô | Phụ thuộc khách, cạnh tranh, giấy tờ |
Điểm đáng chú ý là ít hộ sống bằng một nguồn duy nhất. Một gia đình điển hình có vườn cà phê xen tiêu và cây ăn trái, người chồng đi đánh cá lúc nông nhàn, người vợ buôn bán nhỏ hoặc làm công mùa hái, con lớn đi làm xa gửi tiền về. Chính sự ghép nhiều nguồn này giúp hộ dân vượt qua những năm giá nông sản xuống thấp.
Người bản địa và người đến lập nghiệp: sinh kế không giống nhau
Cư dân quanh hồ Tà Đùng gồm đồng bào M'Nông sống lâu đời trong vùng, đồng bào các dân tộc phía Bắc vào lập nghiệp từ những thập niên cuối thế kỷ trước, và người Kinh đến từ nhiều tỉnh. Mỗi nhóm bước vào kinh tế vườn đồi từ một điểm xuất phát khác nhau, nên sinh kế cũng khác.
Nhiều gia đình đồng bào bản địa trước kia sống bằng nương rẫy luân canh, săn bắt và hái lượm theo luật tục của bon làng. Khi đất rừng thu hẹp và cà phê trở thành cây chính, không ít hộ chuyển sang trồng vườn nhưng thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, có nơi phải bán bớt đất. Vì thế, các chương trình hỗ trợ đất sản xuất, giống, khoán giữ rừng và tín dụng chính sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa thiết thực ở đây.
Người đến lập nghiệp thường mang theo kinh nghiệm canh tác từ quê cũ và mạng lưới họ hàng giúp nhau vốn liếng, nhân công. Nhưng họ cũng bắt đầu từ con số không trên đất dốc, nhiều gia đình mất cả chục năm mới có vườn ổn định. Hiểu sự khác biệt này giúp tránh cái nhìn đơn giản kiểu ai chăm thì giàu, ai lười thì nghèo.
Những thay đổi cư dân đang trải qua
Thay đổi rõ nhất là du lịch. Mười năm trước, khách tìm đến Tà Đùng còn ít; nay cuối tuần có nhiều đoàn từ TP.HCM, Đà Lạt, Gia Nghĩa lên ngắm hồ. Điều này mở thêm việc làm cho người địa phương, nhưng cũng kéo theo chuyện đất tăng giá, người ngoài mua đất làm nơi nghỉ, và áp lực rác thải lên mặt hồ.
Thay đổi thứ hai là cơ cấu cây trồng. Nhiều hộ chuyển một phần cà phê sang sầu riêng hoặc trồng xen dày hơn, chấp nhận vốn lớn và thời gian chờ dài để đổi lấy kỳ vọng thu cao hơn. Đi kèm là nhu cầu về nước tưới, về kỹ thuật và về giấy tờ nguồn gốc như mã số vùng trồng khi bán cho kênh xuất khẩu.
Thay đổi thứ ba là hành chính. Từ tháng 7/2025, xã Tà Đùng thuộc Lâm Đồng, cấp huyện không còn. Với người làm ăn, điều này kéo theo việc cập nhật địa chỉ trên giấy tờ, hồ sơ vay vốn, hợp đồng thu mua. Ở mức đời sống, thói quen đi Gia Nghĩa mua sắm, khám bệnh vẫn còn, vì đường sá và khoảng cách không đổi theo ranh giới mới.
Người ngoài có thể hiểu và đồng hành thế nào
Hiểu sinh kế của cư dân giúp khách và người mới đến cư xử đúng hơn. Vườn cà phê, vườn sầu riêng là tài sản và công sức của cả gia đình, không phải phông nền chụp ảnh: muốn vào vườn thì hỏi chủ, không tự hái quả. Mùa hái là mùa bận nhất năm; đó không phải lúc tốt để nhờ người địa phương dẫn đường hay trò chuyện lâu.
Nếu muốn ủng hộ kinh tế địa phương, cách trực tiếp nhất là mua nông sản của hộ dân, đi thuyền của người ven hồ, ăn ở quán của người trong xã, ở những nơi do gia đình địa phương vận hành. Người muốn tìm đơn vị thu mua, hợp tác xã hay công ty đang hoạt động trên địa bàn có thể tra trong danh bạ doanh nghiệp của trang.
Với người muốn gắn bó lâu, hiểu nhịp làm ăn của láng giềng là bước đầu để sống chung. Biết khi nào hàng xóm bận hái, khi nào lo nước, khi nào rảnh rỗi để ghé thăm, khi nào nên hỏi thuê người làm vườn, là cách tôn trọng cụ thể hơn mọi lời nói về tình yêu với vùng đất.
Câu hỏi thường gặp
Người dân Tà Đùng có giàu lên nhờ du lịch không?
Du lịch mang thêm việc làm và nguồn thu cho một phần hộ ven hồ, nhất là những nhà chở thuyền, mở quán, đón khách. Tuy vậy, phần lớn hộ dân vẫn sống chủ yếu bằng vườn; thu nhập từ khách tập trung vào cuối tuần, ngày lễ và không đều giữa các thôn, các hộ.
Cây trồng chính ở xã Tà Đùng là gì?
Cà phê vối là cây trồng chính, thường xen hồ tiêu và các cây ăn trái như sầu riêng, bơ, mắc ca. Một số hộ có thêm rừng trồng sản xuất, rau màu ngắn ngày hoặc chăn nuôi nhỏ quanh nhà để bổ sung thu nhập.
Mùa nào cư dân bận rộn nhất trong năm?
Mùa hái cà phê vào khoảng cuối năm là lúc bận nhất, khi cả gia đình và nhân công thuê đều lên vườn. Đầu mùa khô tiếp theo là giai đoạn tưới nước cho cà phê ra hoa, cũng rất bận với các hộ có nguồn nước xa vườn.
Có thể mua nông sản trực tiếp của hộ dân ở Tà Đùng không?
Có thể, nhiều hộ bán cà phê, sầu riêng, bơ, mật ong hay rau tại vườn hoặc qua người quen. Khi mua, nên hỏi rõ nguồn gốc, thời điểm thu hoạch và cách bảo quản; với số lượng lớn hoặc hàng cần hoá đơn, nên giao dịch với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp có mã số thuế.
Tà Đùng hiện thuộc tỉnh nào?
Từ ngày 1/7/2025, xã Tà Đùng thuộc tỉnh Lâm Đồng, được lập trên địa bàn hai xã Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong thuộc tỉnh Đắk Nông cũ. Giấy tờ của người dân và doanh nghiệp dần được cập nhật theo địa chỉ mới.
Người mới lên Tà Đùng có tìm được việc làm không?
Việc làm phổ biến nhất là làm công nông nghiệp theo mùa, phụ hồ, phục vụ ở quán ăn hoặc cơ sở lưu trú. Việc làm ổn định, có hợp đồng dài hạn còn ít; người muốn ở lâu thường kết hợp làm từ xa, buôn bán nhỏ hoặc làm vườn của chính mình.