Ở các thôn, bon quanh hồ Tà Đùng, người phụ nữ là người gánh phần lớn những việc lặp lại mỗi ngày: dậy sớm nấu cơm, ra vườn làm cỏ, hái quả, bón phân cùng chồng, đi chợ, đưa đón con, chăm người già, giữ tiền trong nhà, và ở nhiều gia đình đồng bào còn là người giữ nghề dệt, nghề thêu cùng những nếp lễ trong năm. Họ ít xuất hiện trong ảnh du lịch về hồ, vì ảnh thường chụp đảo, chụp thuyền, nhưng gần như mọi bữa cơm khách ăn ở nhà dân, mọi bao cà phê bán ra từ vườn đều có bàn tay của họ.
Bài này phác chân dung chung của người phụ nữ quanh hồ qua một ngày, một năm mùa vụ, những vai trò ít người thấy và những đổi thay vài năm gần đây khi du lịch tới. Nhân vật là hình mẫu tổng hợp từ đời sống quen thuộc ở vùng nông thôn Tây Nguyên, không phải một người cụ thể; mỗi gia đình, mỗi dân tộc có cách chia việc khác nhau, nên đây là bức tranh để hiểu, không phải khuôn để áp lên ai.
Một ngày bắt đầu trước khi trời sáng
Ở một nhà vườn trên đồi nhìn xuống hồ, ngày của người vợ thường bắt đầu khi sương còn phủ kín mặt nước. Bếp được nhóm trước tiên: nồi cơm cho cả nhà, nồi nước để pha cà phê cho chồng, ít cháo cho đứa nhỏ nhất. Ở nhiều nhà, bếp củi vẫn được giữ song song với bếp ga, vì củi sẵn từ cành cà phê tỉa, từ cây trong vườn, và vì nồi canh nấu bếp củi giữ ấm lâu hơn trong những sáng mùa mưa lạnh.
Khi trời vừa sáng, con lớn được dặn dò mang cặp ra đầu dốc chờ xe hoặc đi bộ cùng nhóm bạn tới điểm trường. Đứa nhỏ hơn có khi được gửi bà, có khi được địu theo ra vườn. Gà, heo được cho ăn trước khi rời nhà. Những việc này diễn ra trong khoảng một giờ, nhanh và quen tới mức người ngoài nhìn vào không thấy hết số việc đã làm xong.
Từ giữa buổi sáng tới trưa là việc vườn. Tuỳ mùa mà người phụ nữ làm cỏ dưới gốc, nhặt quả rụng, cắt chồi vượt, rải phân, kéo ống tưới hoặc hái quả. Việc nặng như phun thuốc, vác bao, chở hàng xuống dốc thường do đàn ông làm, nhưng ở những nhà chồng đi làm công xa hay đi chở thuyền cho khách, người vợ gánh luôn phần đó. Buổi trưa về nấu cơm, cho con ăn, nghỉ một lúc ngắn rồi lại ra vườn tới chiều.
Tối là lúc dọn dẹp, tắm cho con, xem bài vở nếu đọc được chữ, và tính toán chuyện tiền nong cho tuần tới. Nhiều người kể rằng chỉ khi con ngủ rồi mới có chút thời gian của riêng mình, để khâu vá, thêu một đoạn hoa văn, hay ngồi gọi điện cho mẹ ở quê cũ. Với người từ phía Bắc vào lập nghiệp, cuộc gọi buổi tối ấy là sợi dây nối với nơi mình đã rời đi.
Một năm việc của người phụ nữ nhà vườn quanh hồ
Nhịp việc trong năm đi theo mùa mưa, mùa khô và mùa hái. Bảng dưới phác các việc thường gặp ở một hộ trồng cà phê vối xen cây ăn trái; mốc tháng là gần đúng và lệch theo thời tiết từng năm:
| Khoảng thời gian | Việc ngoài vườn | Việc trong nhà | Điều hay lo |
|---|---|---|---|
| Đầu mùa mưa, khoảng tháng 4–6 | Bón phân đợt đầu, làm cỏ, trồng dặm | Chuẩn bị đồ cho con vào hè, tích lương thực | Mưa đến sớm hay muộn, giá vật tư |
| Giữa mùa mưa, khoảng tháng 7–9 | Cắt chồi, làm cỏ, bón thêm, giữ đất khỏi trôi | Lo con nhập học, áo mưa, áo ấm | Đường trơn, sạt lở, con đi học xa |
| Mùa hái, khoảng tháng 10–12 | Hái quả, phơi, trông sân, thuê thêm người hái | Nấu cơm cho người làm công, giữ tiền bán hàng | Trời mưa trái mùa khi đang phơi |
| Đầu mùa khô, khoảng tháng 1–2 | Tỉa cành, dọn vườn, bắt đầu tưới | Lo Tết, may đồ mới, chuẩn bị lễ | Trả nợ vật tư, tiền học cho con |
| Giữa mùa khô, khoảng tháng 3–4 | Tưới đợt hai, đợt ba, chăm cây ăn trái | Giữ nước sinh hoạt, chăm người già | Thiếu nước tưới, cháy rừng gần vườn |
Mùa hái là quãng nặng nhất. Ngoài việc hái và phơi, người phụ nữ thường là người nấu cơm cho người làm công và giữ khoản tiền bán quả, khoản tiền mà cả nhà sống dựa vào trong nhiều tháng sau.
Người giữ tiền và giữ sổ của cả nhà
Ở nhiều gia đình nông thôn Tây Nguyên, người vợ là người giữ tiền. Khoản tiền bán cà phê, bán tiêu đến một lần trong năm, còn chi tiêu thì rải đều mười hai tháng: tiền học, tiền thuốc, tiền phân, tiền điện, tiền giỗ chạp, cưới hỏi. Người cầm khoản tiền ấy phải chia sao cho đủ tới mùa sau, và biết lúc nào nên bán ngay, lúc nào giữ lại chờ giá. Đó là một kỹ năng tài chính thật sự, dù ít khi được gọi bằng cái tên ấy.
Khi tiền không đủ, chính người phụ nữ thường là người đi vay: mua chịu phân bón ở đại lý trả sau mùa hái, vay họ hàng, hoặc tham gia tổ tiết kiệm và vay vốn do hội phụ nữ xã đứng ra tổ chức. Các tổ như vậy là kênh quen thuộc ở nông thôn Việt Nam để hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận vốn vay ưu đãi theo chính sách; điều kiện và mức vay cụ thể thay đổi theo từng chương trình nên cần hỏi trực tiếp tổ trưởng hoặc cán bộ hội ở xã.
Gánh nặng nợ trước mùa vụ là nỗi lo âm ỉ của nhiều nhà. Một năm mất mùa hay giá xuống, khoản nợ dồn sang năm sau. Những người làm thiện nguyện hay người muốn giúp đỡ thường nghĩ tới quà, nhưng điều các chị em trong vùng hay nhắc lại là kiến thức: cách ghi chép chi tiêu, cách tính giá thành một ký cà phê, cách nhận ra hợp đồng mua bán bất lợi. Những buổi sinh hoạt hội phụ nữ ở thôn là chỗ thường được dùng để chia sẻ kiến thức như vậy.
Người giữ nghề dệt, nghề thêu và nếp lễ trong năm
Ở các gia đình đồng bào bản địa, nghề dệt thổ cẩm theo truyền thống là việc của phụ nữ. Khung dệt được căng trên hiên nhà vào những lúc nông nhàn, hoa văn được truyền từ mẹ sang con qua cách xem và làm theo hơn là qua chữ viết. Hiện nay số người còn dệt ít đi nhiều, vì vải công nghiệp rẻ và tiện, vì người trẻ đi học, đi làm, nhưng những bộ váy áo dệt tay vẫn được giữ cho dịp cưới hỏi, lễ hội và được coi là của quý trong nhà.
Với đồng bào phía Bắc vào lập nghiệp như người Mông, người Dao, việc thêu thùa trang phục cũng là việc của phụ nữ, nhất là trước dịp Tết. Một bộ váy áo ngày lễ có thể mất nhiều tháng tranh thủ buổi tối mới xong. Ngoài trang phục, phụ nữ còn là người nhớ các món ăn ngày lễ, cách chuẩn bị mâm cúng tổ tiên, những kiêng cữ khi sinh nở, khi có người mất; họ là người giữ nếp nhà theo nghĩa rất cụ thể.
Khách đến Tà Đùng nếu được mời vào nhà, thấy một khung dệt hay một tấm vải thêu dở, có thể hỏi chuyện nhẹ nhàng về hoa văn, về người dạy nghề. Đừng tự cầm lên ướm thử, đừng đòi mua ngay món đồ người ta đang làm cho con cháu. Chuyện văn hoá dệt, thêu của từng dân tộc được viết kỹ hơn ở mục Đồng bào và văn hoá bản địa của trang; ở đây chỉ nhấn rằng phần lớn những gì gọi là "bản sắc" quanh hồ đang nằm trong tay những người phụ nữ ít được nhắc tên.
Khi du lịch tới: việc mới, cơ hội mới và áp lực mới
Bếp nhà thành bếp đón khách. Ở những hộ mở homestay hay nhận nấu cơm cho đoàn, người phụ nữ thường là người đứng bếp. Món rau rừng, gà thả vườn, cá hồ trước chỉ nấu cho nhà nay nấu cho khách, đòi hỏi tính lượng, giữ vệ sinh, nấu đúng giờ. Việc thêm, thu nhập cũng thêm, nhưng giờ nghỉ ít đi.
Bán sản vật nhà làm. Mật ong, măng khô, cà phê rang tay, hạt mắc ca, rượu cần theo dịp: nhiều thứ khách mua về là do phụ nữ trong nhà làm và đóng gói. Một số chị em đã học cách bán qua mạng xã hội, chụp ảnh sản phẩm bằng điện thoại, nhờ con đọc tin nhắn của khách.
Dọn phòng, giặt giũ, giữ nhà. Phía sau một căn phòng sạch cho khách là rất nhiều giờ giặt chăn, lau sàn, dọn rác. Những việc này ít được tính thành công lao khi gia đình bàn chuyện chia lợi nhuận, và đó là điều nhiều nơi làm du lịch cộng đồng đã phải học cách thay đổi.
Áp lực giữ hình ảnh. Khi nhà mình được giới thiệu trên mạng, người phụ nữ thấy mình phải luôn tươm tất, luôn niềm nở, kể cả lúc đang mệt hay có chuyện buồn. Khách tử tế có thể giúp bằng cách đừng chụp ảnh người trong nhà khi chưa xin phép và đừng đòi hỏi phục vụ ngoài giờ.
Con cái có thêm lựa chọn. Nhiều bà mẹ muốn con học ngoại ngữ, học nấu ăn, học làm du lịch để không phải đi làm thuê xa. Họ là người thúc con đi học thêm, dù bản thân có khi chỉ học hết tiểu học.
Những việc không có tên trong cộng đồng thôn bon
Ngoài việc nhà, người phụ nữ còn giữ những mối quan hệ làm nên một cộng đồng. Khi trong thôn có đám cưới, đám ma, phụ nữ các nhà tụ lại nấu nướng, rửa bát, trông trẻ, nhiều ngày liền. Khi một nhà có người ốm, có trẻ mới sinh, chính các bà, các chị đi thăm, mang gạo, mang trứng. Những sợi dây đó không ghi vào đâu cả, nhưng là lý do vì sao một thôn dù nghèo vẫn có chỗ dựa khi có chuyện.
Các tổ chức đoàn thể ở xã như hội phụ nữ, chi hội ở từng thôn cũng dựa phần lớn vào sức của những người phụ nữ này: đi vận động con em ra lớp, nhắc nhau tiêm chủng cho trẻ, tuyên truyền phòng chống bạo lực gia đình, tổ chức dọn vệ sinh đường làng. Ở những thôn đồng bào, có chị em được tín nhiệm làm người hoà giải những chuyện va chạm nhỏ giữa các gia đình, hoặc làm cầu nối khi cán bộ cần nói chuyện với người lớn tuổi không rành tiếng Việt.
Đổi thay đáng kể của mấy năm gần đây là phụ nữ trẻ đi xa hơn. Có người xuống thành phố làm công nhân vài năm rồi về, có người học nghề may, nghề làm tóc, nghề kế toán ở trường nghề trong tỉnh. Khi trở về, họ mang theo cách nghĩ mới về chuyện sinh đẻ, chuyện cho con đi học, chuyện vợ chồng cùng bàn bạc tiền bạc. Không phải nhà nào cũng thay đổi nhanh, nhưng xu hướng ấy có thể thấy rõ khi trò chuyện với hai thế hệ phụ nữ trong cùng một gia đình.
Khách đến hồ có thể làm gì để tôn trọng người phụ nữ địa phương
Hỏi trước khi chụp. Một người phụ nữ đang làm vườn, đang dệt vải, đang địu con trông rất "ăn ảnh" với người lạ, nhưng với họ đó là lúc làm việc, đôi khi là lúc mệt. Hỏi ý bằng một câu đơn giản và tôn trọng câu trả lời.
Mua hàng trực tiếp, trả đúng giá đã thoả thuận. Mặc cả quá đà với một bịch măng khô hay một hũ mật ong nhà làm là cách làm tổn thương người bán nhiều hơn khách nghĩ. Nếu thấy đắt, có thể không mua và cảm ơn.
Đừng mặc định ai làm việc gì. Không phải người phụ nữ nào gặp ở nhà vườn cũng là "người giúp việc"; có thể chị là chủ vườn, là người quyết định chuyện bán hàng. Hỏi chuyện như với một người chủ nhà.
Góp ý đúng chỗ. Nếu bữa cơm, căn phòng chưa vừa ý, nói với người tổ chức một cách nhẹ nhàng thay vì viết lời chê nặng nề lên mạng. Một đánh giá xấu có thể ảnh hưởng tới thu nhập của cả gia đình trong nhiều tháng.
Giúp qua đúng kênh. Muốn hỗ trợ phụ nữ, trẻ em trong vùng, liên hệ qua chính quyền xã, hội phụ nữ hoặc nhà trường để biết nhu cầu thật. Mục Chung tay và thiện nguyện của trang có viết cách làm cho đúng.
Câu hỏi thường gặp
Phụ nữ ở Tà Đùng thường làm những việc gì?
Phần lớn phụ nữ quanh hồ làm vườn cà phê, tiêu, cây ăn trái cùng gia đình, lo việc nhà, chăm con và người già, đi chợ, giữ tiền chi tiêu. Một số làm thêm nấu ăn cho khách, dọn phòng ở homestay, bán sản vật nhà làm hoặc làm công vườn theo mùa.
Ở Tà Đùng còn ai dệt thổ cẩm không?
Vẫn còn một số phụ nữ đồng bào bản địa giữ nghề dệt, chủ yếu làm vào lúc nông nhàn và cho nhu cầu của gia đình như đồ cưới hỏi, lễ hội. Số người dệt ít hơn trước nhiều; muốn xem hay mua nên hỏi qua người quen trong thôn hoặc chính quyền xã.
Hội phụ nữ xã hỗ trợ chị em những gì?
Hội phụ nữ ở xã và chi hội ở thôn thường tổ chức sinh hoạt, tuyên truyền về sức khoẻ, nuôi dạy con, phòng chống bạo lực gia đình, và đứng ra lập các tổ tiết kiệm, vay vốn theo chương trình ưu đãi. Chương trình cụ thể từng năm khác nhau, nên hỏi trực tiếp cán bộ hội ở xã.
Khách du lịch có nên tặng quà cho phụ nữ, trẻ em trong thôn không?
Tặng quà tự phát trên đường dễ tạo thói quen xin cho và làm người nhận ngại. Nếu muốn giúp, nên mua hàng của chính họ với giá sòng phẳng, hoặc liên hệ nhà trường, hội phụ nữ, chính quyền xã để hỗ trợ đúng nhu cầu và có người nhận rõ ràng.
Mùa nào người phụ nữ nhà vườn ở Tà Đùng bận nhất?
Mùa hái cà phê, thường vào khoảng cuối năm, là lúc bận nhất: vừa hái, vừa phơi, vừa nấu cơm cho người làm công và giữ tiền bán quả. Đầu mùa mưa cũng nhiều việc vì phải bón phân, làm cỏ và lo cho con chuẩn bị năm học mới.
Muốn trò chuyện với phụ nữ địa phương thì nên bắt đầu thế nào?
Bắt đầu bằng những chuyện gần gũi như vườn tược, thời tiết, con cái, món ăn trong nhà, và hỏi khi họ đang rảnh tay. Tránh hỏi thẳng chuyện thu nhập, nợ nần hay chuyện vợ chồng. Với người lớn tuổi không rành tiếng Việt, người trẻ trong nhà thường giúp nói chuyện.