Người M'Nông và người Mạ quanh hồ Tà Đùng có một kho văn hoá truyền miệng lớn: sử thi mà người M'Nông gọi là Ot N'drong, được hát kể suốt nhiều đêm bên bếp lửa; truyện cổ về nguồn gốc con người, cây lúa, ngọn núi; những câu nói vần dùng trong luật tục, lời khấn; và chính tiếng mẹ đẻ chứa tất cả những thứ ấy. Kho này hiện chủ yếu nằm trong trí nhớ của người già, và đang mỏng đi nhanh khi lớp trẻ nói tiếng phổ thông nhiều hơn tiếng của mình.
Bài này giới thiệu từng lớp của văn hoá truyền khẩu: sử thi là gì và được kể thế nào, truyện cổ và câu nói vần dùng vào việc gì, tiếng M'Nông, tiếng Mạ đang ở đâu trong đời sống hằng ngày, và những gì đang được làm để giữ lại. Cuối bài là gợi ý cho khách và cho cộng đồng người yêu Tà Đùng: nghe thế nào cho phải phép, ghi lại thế nào cho đúng, góp sức ra sao mà không biến người kể chuyện thành một tiết mục.
Sử thi M'Nông: những đêm kể chuyện không dứt
Sử thi của người M'Nông, thường được ghi là Ot N'drong hoặc Ót N'rông, là những câu chuyện dài về các anh hùng, các cuộc chiến, các cuộc đi xa, cưới hỏi, cướp vợ, giao tranh giữa các bon, đan xen với thế giới thần linh. Nhân vật thường được nhắc như Tiăng và nhiều người anh em, bạn bè của chàng xuất hiện ở nhiều bộ khác nhau, tạo thành một thế giới chung. Một bộ sử thi có thể kéo dài nhiều đêm liền nếu kể đủ.
Sử thi không được đọc mà được hát kể: người nghệ nhân nằm hoặc ngồi bên bếp lửa, giọng lúc kể, lúc ngâm, lúc hát, người nghe đáp lời, cười, giục kể tiếp. Thời gian kể thường là ban đêm, trong mùa nông nhàn, sau lễ, khi có khách quý, hoặc khi cả nhà quây quần. Câu chuyện có thể được kể dài, ngắn tuỳ người nghe, tuỳ đêm, và mỗi nghệ nhân có cách thêm bớt riêng.
Đầu những năm 2000, các nhà nghiên cứu cùng nghệ nhân ở Tây Nguyên đã sưu tầm, ghi âm, phiên âm và dịch nhiều bộ sử thi, trong đó có sử thi M'Nông, thành những tập sách đồ sộ. Nhờ vậy một phần kho tàng này đã được lưu lại trên giấy. Nhưng sử thi trên giấy và sử thi bên bếp lửa là hai thứ khác nhau: thứ thứ hai chỉ còn khi còn người kể và người nghe.
Truyện cổ và những câu chuyện về nguồn gốc
Bên cạnh sử thi, người M'Nông, Mạ có rất nhiều truyện cổ: truyện về nạn hồng thuỷ và sự ra đời của loài người, truyện về hạt lúa đầu tiên, về vì sao con người phải làm rẫy, vì sao có núi, có suối, vì sao con vật này hiền, con vật kia dữ. Những truyện này thường được kể cho trẻ con, ngắn hơn sử thi, dễ nhớ hơn, và mang theo bài học về cách sống: biết ơn, chia sẻ, không tham lam, không phá rừng bừa bãi.
Nhiều truyện gắn với địa hình cụ thể: một ngọn núi, một thác nước, một vực sâu trên sông. Quanh hồ Tà Đùng, nơi nhiều thung lũng, khúc sông cũ đã nằm dưới mặt nước, những câu chuyện gắn với địa danh cũ trở thành một phần ký ức lòng hồ. Người già còn nhớ chỗ ấy ngày xưa gọi là gì, có chuyện gì; người trẻ chỉ còn thấy mặt hồ.
Truyện cổ cũng thay đổi theo người kể. Có truyện pha thêm chi tiết mới, có nhân vật mặc áo, đi xe máy, có truyện được kể lại bằng tiếng phổ thông cho cháu nghe. Đó không phải là "sai bản gốc" mà là cách văn học truyền miệng vẫn sống: luôn được kể lại cho người nghe của thời mình.
Câu nói vần: ngôn ngữ của luật tục và lời khấn
Luật tục được nói bằng vần. Nhiều điều luật tục của người M'Nông, Mạ được truyền dưới dạng những câu nói có vần, có nhịp, dễ thuộc. Khi phân xử, già làng nhắc lại các câu ấy như dẫn luật, khiến lời phán xử vừa có lý vừa có sức nặng của truyền thống.
Lời khấn trong lễ. Lời khấn mời thần núi, thần nước, thần lúa, tổ tiên cũng là những đoạn văn vần dài, có công thức mở đầu, kể lý do làm lễ, kể lễ vật, cầu xin, kết thúc. Người khấn giỏi thuộc nhiều bài cho nhiều dịp.
Câu đối đáp trong cưới hỏi. Khi hai gia đình gặp nhau bàn chuyện cưới, người đại diện mỗi bên nói với nhau bằng những câu ví von, ẩn dụ, vừa khéo vừa tế nhị. Người giỏi ăn nói được mời đi làm đại diện cho nhiều nhà.
Câu hát ru, câu đố. Mẹ ru con, trẻ con đố nhau, trai gái hát trêu nhau trong những đêm hội. Đây là lớp văn hoá đời thường nhất và cũng mai một nhanh nhất, vì nó cần có người lớn rảnh rỗi ngồi cùng trẻ.
Tri thức nằm trong từ ngữ. Tên các loại cây, con vật, loại đất, giai đoạn của lúa, cách gọi các khúc suối, các loại mưa đều có từ riêng trong tiếng mẹ đẻ. Mất tiếng nói là mất luôn một kho hiểu biết về rừng núi vùng hồ.
Tiếng M'Nông, tiếng Mạ trong đời sống hôm nay
Tiếng M'Nông và tiếng Mạ đều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer. Các tiếng này đã có chữ viết theo mẫu tự La-tinh, được dùng trong sách song ngữ, tài liệu dạy tiếng cho cán bộ, giáo viên công tác ở vùng đồng bào, và trên một số chương trình phát thanh, truyền hình địa phương bằng tiếng dân tộc. Tuy vậy, phần lớn người dân vẫn dùng tiếng mẹ đẻ để nói hơn là để đọc, viết.
Quanh hồ Tà Đùng, người lớn tuổi trong các bon nói tiếng mẹ đẻ trong nhà, ở nương rẫy, trong lễ. Người trung niên nói được cả hai thứ tiếng. Trẻ em đi học, xem điện thoại, chơi với bạn người Kinh, người Mông, nên tiếng phổ thông thành ngôn ngữ hằng ngày; nhiều em nghe hiểu tiếng mẹ đẻ nhưng ngại nói. Những gia đình cha mẹ khác dân tộc thì tiếng chung trong nhà thường là tiếng phổ thông.
Khi tiếng mẹ đẻ chỉ còn dùng trong vài tình huống, những lớp văn hoá nằm trong nó, như sử thi, lời khấn, câu nói vần, sẽ mất trước. Người trẻ có thể vẫn đánh được chiêng, vẫn mặc thổ cẩm dịp lễ, nhưng không còn hiểu bài sử thi kể gì. Đây là mối lo được nhiều người làm văn hoá ở Tây Nguyên nhắc tới.
Ai đang giữ kho văn hoá truyền khẩu và đang gặp khó gì
Bảng dưới gom những người, những nơi thường giữ văn hoá truyền khẩu ở các bon quanh hồ; mức độ thật sự khác nhau theo từng bon.
| Người, nơi giữ | Đang giữ được gì | Khó khăn chính | Người ngoài có thể làm gì |
|---|---|---|---|
| Nghệ nhân lớn tuổi | Sử thi, lời khấn, bài chiêng, truyện cổ | Tuổi cao, ít người học nối | Nghe, ghi lại khi được phép, trả công xứng đáng |
| Già làng | Luật tục, câu nói vần, ký ức bon cũ | Luật thành văn thay dần vai trò phân xử | Hỏi chuyện với thái độ học hỏi |
| Gia đình | Tiếng mẹ đẻ, hát ru, truyện cho trẻ | Cha mẹ bận làm vườn, con xem điện thoại | Không chê cười khi trẻ nói tiếng mẹ đẻ |
| Trường học | Một số lớp, hoạt động văn hoá dân tộc | Chương trình nặng, thiếu giáo viên biết tiếng | Ủng hộ sách song ngữ qua kênh chính thức |
| Câu lạc bộ, đội văn nghệ | Chiêng, múa, hát dân ca | Thiếu kinh phí, thiếu người dẫn dắt | Mời biểu diễn có trả công, không ép bài thiêng |
Không có lời giải duy nhất. Kinh nghiệm ở nhiều vùng cho thấy văn hoá truyền khẩu chỉ sống được khi người trong cộng đồng thấy nó có giá trị, cả về tình cảm lẫn về đời sống, chứ không chỉ khi được ghi vào sách.
Nghe và ghi lại chuyện kể của người già: làm thế nào cho đúng
Nhiều người yêu Tà Đùng, nhất là người làm nội dung, sinh viên, người viết, muốn ghi lại câu chuyện của người già trong bon. Ý định tốt cần đi kèm cách làm đúng.
- Đi qua người được bon tin cậy: già làng, trưởng bon, cán bộ văn hoá xã hoặc người trong gia đình nghệ nhân. Nói rõ mình là ai, ghi để làm gì.
- Xin phép rõ ràng trước khi ghi âm, quay phim, chụp ảnh. Hỏi luôn có được đăng lên mạng hay không, đăng ở đâu, có ghi tên người kể hay không.
- Hỏi xem chuyện nào được kể cho người ngoài, chuyện nào chỉ kể trong nhà, trong lễ. Có những bài khấn, bài chuyện không nên ghi lại.
- Để người kể kể theo cách của họ, bằng tiếng mẹ đẻ nếu họ muốn; nhờ người trong bon dịch lại sau. Đừng cắt ngang để đòi "kể ngắn thôi".
- Trả công cho thời gian của nghệ nhân và người dịch, bằng tiền hoặc quà phù hợp, thoả thuận trước.
- Gửi lại cho gia đình, cho bon bản ghi âm, bản ghi chép. Kho trí nhớ ấy trước hết là của họ.
- Khi đăng, ghi rõ người kể, bon, thời điểm ghi; không tự ý thêm thắt, không gán cho câu chuyện ý nghĩa mà người kể không nói.
Một bản ghi âm cẩn thận, có xin phép, có trả lại cho cộng đồng, có giá trị lâu dài hơn rất nhiều đoạn video ngắn dựng lại cho vui mắt.
Vì sao người yêu Tà Đùng nên quan tâm đến kho chuyện này
Phần lớn người đến Tà Đùng mang về ảnh mặt hồ, đảo nhỏ và sương sớm. Ít ai mang về một câu chuyện của vùng đất ấy kể bằng chính người bản địa. Thế nhưng chính những câu chuyện về núi, về sông, về người xưa mới làm cho một cảnh đẹp có chiều sâu, và giúp người đến sau hiểu rằng mặt hồ hôm nay phủ lên những gì.
Với cộng đồng người yêu Tà Đùng, góp một phần giữ kho truyền khẩu không đòi hỏi việc lớn. Ngồi nghe một người già kể chuyện mà không vội, khuyến khích một đứa trẻ nói vài câu tiếng mẹ đẻ, mua một cuốn sách song ngữ cho thư viện trường qua kênh chính thức, chia sẻ một bản ghi có xin phép và ghi nguồn đúng đắn, đều là việc ai cũng làm được.
Điều quan trọng là thái độ: coi người kể chuyện là người thầy, không phải nhân vật lạ để chụp ảnh. Khi người trong bon thấy người ngoài thật lòng trân trọng tiếng nói và câu chuyện của mình, chính họ sẽ có thêm lý do để kể cho con cháu nghe.
Câu hỏi thường gặp
Ot N'drong là gì?
Ot N'drong, còn được ghi là Ót N'rông, là tên người M'Nông gọi thể loại sử thi của mình: những câu chuyện dài về anh hùng, giao tranh, cưới hỏi và thế giới thần linh, được nghệ nhân hát kể suốt nhiều đêm bên bếp lửa. Một phần đã được sưu tầm, dịch và in thành sách.
Tiếng M'Nông có chữ viết không?
Có. Tiếng M'Nông đã có chữ viết dùng mẫu tự La-tinh, được dùng trong sách song ngữ, tài liệu dạy tiếng cho cán bộ, giáo viên và một số chương trình truyền thông địa phương. Tuy vậy, phần lớn người dân dùng tiếng mẹ đẻ để nói nhiều hơn để đọc, viết.
Còn ai kể được sử thi ở vùng hồ Tà Đùng không?
Người thuộc sử thi, lời khấn dài ngày càng ít và phần lớn đã cao tuổi. Muốn biết trong xã còn nghệ nhân nào, nên hỏi qua cán bộ văn hoá xã, già làng hoặc người quen trong bon, và chuẩn bị tinh thần là không phải ai cũng sẵn lòng kể cho người lạ.
Khách có được ghi âm khi nghe người già kể chuyện không?
Chỉ khi được người kể và gia đình đồng ý rõ ràng. Nên hỏi trước có được đăng lên mạng không, có ghi tên không, chuyện nào không được ghi. Gửi lại bản ghi cho gia đình và trả công cho thời gian của nghệ nhân là cách làm tử tế.
Vì sao trẻ em đồng bào ngày càng ít nói tiếng mẹ đẻ?
Vì các em học bằng tiếng phổ thông, chơi với bạn nhiều dân tộc, xem điện thoại bằng tiếng phổ thông, và nhiều em lớn lên trong gia đình cha mẹ khác dân tộc. Một số em còn ngại nói vì sợ bị trêu. Sự khuyến khích của người lớn, cả người ngoài, giúp các em tự tin hơn.
Người ngoài có thể làm gì để giữ văn hoá truyền khẩu ở Tà Đùng?
Nghe với thái độ học hỏi, trả công cho nghệ nhân, ghi lại có xin phép và trả bản ghi cho cộng đồng, ủng hộ sách song ngữ qua nhà trường hoặc chính quyền, và không bao giờ chê cười tiếng nói hay câu chuyện của đồng bào. Những việc nhỏ ấy cộng lại thành động lực cho người trong bon.