Một năm của hộ dân Tà Đùng chia theo hai mùa lớn của cao nguyên: mùa khô từ khoảng tháng 11–12 đến tháng 4 là mùa hái cà phê, thu tiêu, tưới nước và đón nhiều khách; mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10 là mùa chăm vườn, bón phân, thu sầu riêng, bơ và ít khách hơn. Mốc tháng xê dịch theo từng năm và từng sườn đồi, nhưng nhịp chung thì gần như cố định.
Hiểu lịch này giúp người ngoài biết khi nào hàng xóm bận, khi nào trong xã có tiền, khi nào cần người làm, và khi nào là lúc thích hợp để ghé thăm hay hợp tác. Bài viết đi lần lượt qua các giai đoạn trong năm, từ góc nhìn của một hộ có vườn cà phê xen cây ăn trái và có người làm thêm nghề phụ.
Đầu mùa khô: hái cà phê và những tuần thiếu người
Khoảng tháng 10 đến tháng 12, quả cà phê vối chín đỏ dần trên cành. Đây là mùa thu tiền chính của năm nên mọi việc khác đều nhường chỗ. Người trong nhà lên vườn từ sáng sớm, trải bạt dưới gốc, tuốt hoặc hái chọn quả chín, đóng bao rồi chở về sân phơi. Với vườn trên dốc, chở bao cà phê tươi xuống đường lớn là phần tốn sức nhất.
Vì cả vùng chín gần cùng lúc, nhân công trở nên khan hiếm. Nhiều chủ vườn phải đặt người từ trước, có nhà đón người thân từ quê lên hái, có nhà đổi công với hàng xóm: hôm nay cả nhóm hái vườn nhà này, mai sang vườn nhà kia. Trẻ con tan học cũng phụ việc nhặt quả rơi, trông em, nấu cơm.
Sau khi hái là phơi. Sân xi măng, sân đất trải bạt, mái tôn, mọi chỗ trống đều thành chỗ phơi cà phê. Nắng hanh đầu mùa khô giúp hạt khô nhanh; ngược lại, nếu mưa trái mùa kéo dài, quả dễ mốc và mất giá. Nhiều hộ bán quả tươi ngay cho điểm thu mua để khỏi lo phơi, đổi lại giá thấp hơn so với bán nhân khô.
Giữa mùa khô: tưới nước, thu tiêu và chuyện nước
Hái xong cà phê, vườn bước vào giai đoạn tưới. Cây cà phê vối cần một thời gian khô hạn để phân hoá mầm hoa, sau đó được tưới đẫm thì hoa nở đồng loạt. Lứa nước đầu thường quyết định vụ sau có đậu quả tốt hay không, nên người làm vườn rất để ý thời điểm. Từ tháng 1 đến tháng 4, nhiều hộ tưới vài đợt, mỗi đợt cách nhau tuỳ nắng và tuỳ nguồn nước.
Nước tưới ở vùng hồ đến từ suối, giếng khoan, ao trữ hoặc bơm từ hồ ở nơi gần mép nước. Hộ có vườn trên đỉnh đồi xa nguồn nước gặp khó nhất: phải kéo ống dài, chạy máy bơm nhiều tầng, tốn dầu tốn điện. Những năm nắng kéo dài, chuyện chia nước giữa các hộ chung một con suối có thể căng thẳng.
Cũng trong khoảng đầu năm, hồ tiêu cho thu hoạch. Người ta hái từng chùm khi có hạt chín, phơi khô rồi bán. Vì tiêu leo trụ trong vườn cà phê, mùa tiêu nối ngay sau mùa cà phê làm cho đầu năm âm lịch vẫn bận. Tết Nguyên đán rơi vào giữa giai đoạn này, nhiều gia đình nghỉ ngắn rồi trở lại vườn.
Mùa khô cũng là mùa khách và mùa nước hồ xuống
Trời đẹp, khách đông. Mùa khô ít mưa, đường đất dễ đi, trời trong để ngắm hồ và săn mây buổi sáng, nên lượng khách du lịch thường tăng. Dịp Tết và các kỳ nghỉ đầu năm, cuối tuần, các hộ chở thuyền, bán hàng, đón khách có thêm thu nhập rõ rệt.
Mặt hồ thu hẹp dần. Hồ thủy điện thường hạ thấp mực nước về cuối mùa khô do nhà máy phát điện và lượng nước về ít. Bờ hồ lộ ra những dải đất trống, một số bến thuyền phải dời xuống thấp, một số lồng cá phải kéo ra chỗ sâu hơn.
Đất lòng hồ lộ ra. Ở vài nơi, người dân tận dụng đất lòng hồ lộ ra để trồng cây ngắn ngày trong vài tháng. Việc này tiềm ẩn rủi ro mất trắng khi nước dâng sớm và cần tuân theo quy định quản lý lòng hồ của địa phương và đơn vị vận hành.
Nguy cơ cháy rừng tăng. Cuối mùa khô, thực bì khô, gió mạnh, nguy cơ cháy rừng cao nhất trong năm. Đây cũng là mùa những hộ nhận khoán giữ rừng phải tuần tra nhiều hơn và cả cộng đồng được nhắc không đốt rẫy, không đốt rác gần rừng.
Đầu mùa mưa: bón phân, trồng mới và sửa vườn
Những cơn mưa đầu mùa, thường vào khoảng tháng 4–5, là tín hiệu để vào việc chăm vườn. Đất ẩm, cây bắt đầu ra lộc, người làm vườn bón phân đợt đầu, làm bồn quanh gốc, đào rãnh thoát nước ở chỗ dốc. Đây cũng là thời điểm trồng mới, trồng dặm cây cà phê, sầu riêng, cây che bóng, vì cây con có cả mùa mưa để bén rễ.
Đầu mùa mưa là lúc tiền mặt trong nhà thường thấp nhất: tiền bán cà phê đã chi cho tưới nước, sửa nhà, học phí, ăn Tết, trong khi lại cần mua phân bón, cây giống. Nhiều hộ mua phân bón trả chậm ở đại lý quen, hẹn trả vào mùa hái; một số vay vốn ngân hàng hoặc tín dụng chính sách theo diện hộ.
Làm cỏ cũng bắt đầu dày lên. Trên đất dốc, nhà vườn kinh nghiệm thường không làm sạch cỏ hoàn toàn mà giữ thảm cỏ thấp giữa hàng để giảm xói mòn. Người đi làm công có thêm việc làm cỏ, tỉa cành, bón phân thuê trong mấy tháng này.
Giữa và cuối mùa mưa: thu trái cây, mùa nước lên và ít khách
Từ khoảng giữa mùa mưa, các cây ăn trái trong vườn lần lượt cho thu: bơ, sầu riêng, mắc ca, chanh dây tuỳ giống và tuỳ cách chăm. Đây là nguồn tiền giữa năm giúp hộ dân đỡ phải chờ tới mùa cà phê. Sầu riêng là cây đem lại nguồn thu lớn nhất nhưng cũng nhạy cảm nhất với mưa dầm, gió mạnh và sâu bệnh; một trận gió lớn lúc trái gần chín có thể làm rụng cả mùa.
Mặt hồ dâng dần theo lượng nước về. Những dải đất lòng hồ lộ ra mùa khô lại bị nhấn chìm; bến thuyền dời lên cao; người nuôi cá lồng phải gia cố dây neo vì nước lên nhanh sau các trận mưa lớn. Đường đất vào các thôn xa trơn trượt, có đoạn sạt lở, việc đi lại và chở hàng chậm hơn.
Khách du lịch ít hơn trong mùa mưa, nhất là những ngày mưa kéo dài. Với hộ làm dịch vụ, đây là mùa thấp điểm cần dành dụm từ trước. Một số chủ chỗ ở và người chở thuyền tranh thủ sửa chữa, bảo dưỡng, học thêm kỹ năng trong những tháng vắng khách.
Tiền vào, tiền ra: dòng tiền của một hộ theo mùa
Nhịp mùa vụ tạo ra một dòng tiền rất lệch: phần lớn thu nhập dồn vào vài tháng sau mùa hái cà phê, trong khi chi tiêu rải đều quanh năm và có những khoản lớn rơi vào lúc túi đang rỗng. Học phí đầu năm học vào tháng 8–9, phân bón đầu mùa mưa, tiền thuê người hái cuối năm, tất cả đều là những khoản không thể hoãn.
Để vượt qua độ lệch đó, hộ dân dùng nhiều cách chồng lên nhau. Mua phân bón, thuốc ở đại lý quen theo kiểu ghi sổ, trả sau mùa hái. Giữ lại một phần cà phê nhân khô trong kho để bán dần khi cần tiền, cũng là cách chờ giá. Vay ngân hàng với tài sản bảo đảm là đất vườn, hoặc vay vốn tín dụng chính sách nếu thuộc diện được vay. Có nơi vẫn còn hình thức chơi hụi giữa những người quen.
Mỗi cách đều có rủi ro. Mua chịu thường kèm giá cao hơn mua tiền mặt; giữ hàng chờ giá có thể lỗ nếu giá xuống; vay lãi cao ngoài hệ thống ngân hàng dễ dẫn tới mất đất. Những hộ có thêm nguồn thu giữa năm từ cây ăn trái, nghề cá hay dịch vụ du lịch thường đỡ phụ thuộc vào các khoản vay này nhất, và đó cũng là lý do người ta ngày càng chuộng vườn nhiều loại cây.
Lịch làm ăn tham khảo theo tháng
Bảng sau tóm tắt các việc chính theo tháng của một hộ có vườn cà phê xen tiêu và cây ăn trái, có làm thêm nghề phụ. Mốc tháng mang tính tham khảo, xê dịch theo thời tiết từng năm, độ cao và giống cây.
| Khoảng tháng | Việc vườn chính | Nghề phụ, đời sống |
|---|---|---|
| 10 – 12 | Hái, phơi, bán cà phê | Thiếu nhân công, đổi công; khách bắt đầu tăng |
| 1 – 2 | Tưới cà phê đợt đầu, thu hồ tiêu | Tết Nguyên đán, khách đông dịp lễ |
| 3 – 4 | Tưới các đợt sau, làm cỏ | Nước hồ xuống thấp, nguy cơ cháy rừng cao |
| 4 – 6 | Bón phân đầu mùa mưa, trồng mới, trồng dặm | Tiền mặt eo hẹp, mua phân trả chậm |
| 6 – 8 | Làm cỏ, tỉa cành, bón phân đợt hai | Khách giảm, nước hồ lên dần |
| 7 – 10 | Thu bơ, sầu riêng, mắc ca tuỳ vườn | Mưa lớn, đường trơn, chuẩn bị mùa hái |
Nhìn vào bảng có thể thấy hai khoảng trống tương đối là sau Tết đến giữa mùa khô, và giữa mùa mưa. Đây là lúc người nông dân có thời gian cho nghề phụ, cho việc làng xóm, sinh hoạt cộng đồng, và cũng là lúc dễ sắp xếp các hoạt động thiện nguyện, tập huấn hay gặp gỡ nhất.
Lịch này có ý nghĩa gì với người ngoài
Với người làm thiện nguyện hoặc tổ chức hoạt động cộng đồng, chọn thời điểm đúng quan trọng không kém nội dung. Một buổi tập huấn hay trao quà rơi vào giữa mùa hái sẽ vắng người, vì ai cũng đang ở trên vườn. Hỏi trưởng thôn, nhà trường hoặc hội đoàn thể trước để chọn ngày là cách làm đúng.
Với người muốn thuê người làm vườn, sửa nhà hay xây dựng, nên tránh mùa hái và đầu mùa tưới, khi nhân công đã kín việc và giá công thường cao hơn. Với người mua nông sản, biết mùa nào loại trái nào chín sẽ tránh mua phải hàng trái mùa chở từ nơi khác về.
Với khách du lịch, lịch này giúp hiểu vì sao có lúc hàng xóm vui vẻ trò chuyện, có lúc chỉ chào vội rồi đi. Và với người muốn sống lâu ở Tà Đùng, đó là nhịp mà cuộc sống của mình sẽ phải hoà vào: biết mùa nào cần dự trữ nước, mùa nào đường xấu, mùa nào trong xã có nhiều việc làm.
Câu hỏi thường gặp
Mùa hái cà phê ở Tà Đùng rơi vào tháng mấy?
Mùa hái cà phê vối quanh hồ Tà Đùng thường rơi vào khoảng tháng 10 đến tháng 12, có năm kéo sang đầu tháng 1. Thời điểm cụ thể phụ thuộc vào độ cao của vườn, giống cây và thời tiết từng năm.
Vì sao mùa khô lại là mùa bận nhất của người làm vườn?
Vì mùa khô vừa là mùa thu hoạch cà phê, hồ tiêu, vừa là mùa phải tưới để cà phê ra hoa cho vụ sau. Người làm vườn phải lo hái, phơi, bán rồi lại lo nguồn nước, máy bơm và đường ống trong nhiều tháng liền.
Mực nước hồ Tà Đùng thay đổi thế nào trong năm?
Hồ thường hạ thấp dần vào cuối mùa khô và dâng lên trong mùa mưa, đạt mức cao vào cuối mùa mưa. Biên độ cụ thể phụ thuộc vào lượng mưa và cách vận hành của nhà máy thủy điện, nên mỗi năm một khác.
Khi nào trong năm hộ dân có nhiều tiền mặt nhất?
Sau mùa bán cà phê vào cuối năm và đầu năm sau, hộ dân thường có nhiều tiền mặt nhất. Ngược lại, đầu mùa mưa là lúc eo hẹp, khi tiền đã chi cho Tết, tưới nước và phải mua phân bón cho vụ mới.
Thời điểm nào nên tổ chức hoạt động cộng đồng ở Tà Đùng?
Nên tránh mùa hái cà phê và những tuần tưới nước căng nhất. Khoảng sau Tết đến giữa mùa khô, hoặc giữa mùa mưa khi vườn đã bón phân xong, thường dễ tập hợp người hơn; tốt nhất hỏi trưởng thôn hoặc nhà trường trước khi chốt ngày.