Cư dân sống cạnh Vườn quốc gia Tà Đùng kiếm sống từ rừng chủ yếu theo bốn cách hợp pháp: nhận khoán bảo vệ rừng và hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, trồng và chăm rừng sản xuất trên đất được giao, làm công cho các hoạt động lâm nghiệp, và thu hái một số lâm sản ngoài gỗ ở nơi được phép. Rừng đặc dụng thì không được khai thác gỗ, không được lấn làm rẫy, không săn bắt.
Vườn quốc gia Tà Đùng được nâng hạng từ khu bảo tồn thiên nhiên vào năm 2018, nằm trên vùng núi cao ở phía tây hồ, có rừng kín thường xanh và nhiều loài động thực vật quý. Những thôn quanh vườn, trên địa bàn xã Tà Đùng và các xã lân cận, thuộc vùng đệm, nơi đời sống người dân gắn chặt với rừng từ trước khi có ranh giới bảo tồn.
Bài viết giải thích cơ chế của các nguồn thu từ rừng, những ràng buộc đi kèm, và vì sao bài toán sinh kế vùng đệm là bài toán của cả cộng đồng chứ không chỉ của ban quản lý rừng.
Vùng đệm là gì và vì sao nó quan trọng với sinh kế
Theo Luật Lâm nghiệp, vườn quốc gia có vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt và vùng đệm bao quanh. Vùng đệm là nơi dân cư sinh sống, sản xuất, đồng thời có vai trò ngăn chặn, giảm tác động tiêu cực từ bên ngoài vào vùng lõi. Các chương trình phát triển vùng đệm nhằm nâng cao đời sống người dân để giảm áp lực lên rừng.
Logic rất đơn giản: nếu người sống cạnh rừng không có sinh kế đủ sống, áp lực vào rừng để lấy gỗ, mở rẫy, săn bắt sẽ tăng. Ngược lại, khi người dân có thu nhập từ vườn, từ khoán rừng, từ du lịch, và thấy rừng còn thì mình được lợi, họ trở thành người giữ rừng hiệu quả nhất. Ban quản lý không thể có đủ người tuần tra hàng chục nghìn hecta nếu thiếu cộng đồng.
Ở Tà Đùng, nhiều thôn có đồng bào M'Nông và các dân tộc khác sống gần rừng từ lâu. Kiến thức về rừng của họ, biết đường mòn, biết mùa cây ra hoa, biết dấu vết thú, là tài sản quý cho công tác bảo tồn nếu được tôn trọng và trả công xứng đáng.
Nhận khoán bảo vệ rừng: làm gì và nhận gì
Khoán bảo vệ rừng là hình thức chủ rừng, như ban quản lý vườn quốc gia, ban quản lý rừng phòng hộ hay công ty lâm nghiệp, giao cho hộ gia đình, cộng đồng thôn hoặc nhóm hộ trách nhiệm bảo vệ một diện tích rừng nhất định. Người nhận khoán cam kết đi tuần tra, phát hiện và báo cáo chặt phá, lấn chiếm, săn bắt, tham gia phòng cháy chữa cháy rừng.
Nguồn tiền trả cho người nhận khoán phần lớn đến từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, quy định trong Luật Lâm nghiệp năm 2017 và Nghị định 156/2018/NĐ-CP cùng các văn bản sửa đổi. Theo cơ chế này, các đơn vị hưởng lợi từ rừng, trong đó có nhà máy thủy điện, trả tiền cho việc rừng giữ đất, điều tiết nước. Tiền được chuyển qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đến chủ rừng, rồi đến người nhận khoán.
Mức tiền mỗi hecta mỗi năm khác nhau theo lưu vực, theo hệ số rừng và theo từng năm, nên bài viết không nêu con số. Với nhiều hộ, đây là khoản thu không lớn bằng vườn nhưng đều đặn, đến vào thời điểm cố định, giúp trang trải học phí, mua phân bón. Sau sắp xếp hành chính năm 2025, việc chi trả trên địa bàn liên quan tới các cơ quan của tỉnh Lâm Đồng; hộ nhận khoán nên hỏi chủ rừng và UBND xã về các thay đổi nếu có.
Những nguồn thu hợp pháp khác từ rừng
Trồng rừng sản xuất. Hộ được giao đất rừng sản xuất có thể trồng keo, thông hoặc cây gỗ khác, khai thác theo chu kỳ và quy định. Đây là khoản đầu tư dài hạn, thu sau nhiều năm, nên thường kết hợp với vườn ngắn ngày.
Làm công lâm nghiệp. Trồng rừng, chăm rừng, làm đường băng cản lửa, tham gia các đội phòng cháy mùa khô của chủ rừng là những việc tạo thu nhập theo đợt cho người dân vùng đệm.
Lâm sản ngoài gỗ ở nơi được phép. Măng, mật ong rừng, một số loại rau, nấm, cây thuốc có thể được thu hái ở rừng sản xuất hoặc theo thoả thuận với chủ rừng. Trong vùng lõi rừng đặc dụng, việc thu hái bị hạn chế chặt chẽ và phải theo quy định của ban quản lý.
Trồng cây dưới tán. Ở rừng sản xuất và rừng phòng hộ theo quy định, một số mô hình trồng cây dược liệu, cây ăn quả dưới tán được thử nghiệm ở nhiều địa phương. Sâm Bố Chính trồng ở vùng Tà Đùng là ví dụ về cây trồng dưới tán đang được nhắc đến; người quan tâm nên tìm hiểu kỹ quy định đất và rừng trước khi làm.
Du lịch sinh thái. Khi vườn quốc gia phát triển du lịch sinh thái theo quy định, người dân vùng đệm có thể làm hướng dẫn viên địa phương, cung cấp dịch vụ ăn ở, vận chuyển. Đây là hướng có tiềm năng nhưng cần được tổ chức bài bản.
Những việc không được làm trong và quanh rừng đặc dụng
Sinh kế từ rừng chỉ bền khi giữ được rừng. Theo Luật Lâm nghiệp và các quy định liên quan, một số hành vi bị cấm hoặc bị xử lý nghiêm, trong đó có:
- Chặt phá, khai thác gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, trồng cà phê, sầu riêng hay xây dựng.
- Săn bắt, bẫy, mua bán, tiêu thụ động vật rừng, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm.
- Đốt rừng, đốt thực bì không đúng quy định gần rừng trong mùa khô.
- Vào vùng lõi khi chưa được phép, tự mở đường, tự dựng lều trại trái phép.
- Mua bán lâm sản không rõ nguồn gốc, kể cả bán cho khách du lịch làm quà.
Mức xử lý cụ thể phụ thuộc vào hành vi, diện tích, loài và quy định hiện hành, có thể từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự. Người mới đến cần biết rằng một lô đất bán rẻ nhưng nằm trong hoặc lấn vào đất rừng có thể kéo theo rủi ro pháp lý rất lớn.
Rừng và thị trường nông sản: mối liên hệ mới
Những năm gần đây, chuyện giữ rừng không còn chỉ là chuyện của luật trong nước. Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu đòi hỏi cà phê và một số nông sản nhập vào châu Âu phải chứng minh không trồng trên đất mới phá rừng sau một mốc thời gian nhất định. Thời điểm áp dụng quy định này đã được lùi lại, nhưng các doanh nghiệp thu mua cà phê xuất khẩu đã bắt đầu yêu cầu tọa độ vườn và hồ sơ nguồn gốc.
Với vùng đệm như Tà Đùng, điều này có ý nghĩa trực tiếp: vườn mở rộng lấn rừng không chỉ vi phạm luật mà còn khó bán sản phẩm cho kênh xuất khẩu, có thể bị ép giá. Ngược lại, hộ có vườn rõ ràng nguồn gốc, gắn với giữ rừng, có thể có lợi thế khi tham gia các chuỗi liên kết bền vững.
Đây là một ví dụ cho thấy giữ rừng và làm kinh tế không nhất thiết đối nghịch nhau, nếu người dân có thông tin, được hỗ trợ lập hồ sơ và được kết nối với người mua đúng.
Mùa khô, cháy rừng và vai trò của cộng đồng
Cuối mùa khô, khoảng tháng 2 đến tháng 4, là giai đoạn nguy cơ cháy rừng cao nhất quanh hồ. Thực bì khô, gió mạnh, thói quen đốt rác, đốt cỏ dọn vườn có thể làm lửa lan vào rừng. Những đám cháy như vậy không chỉ mất rừng mà còn mất tiền khoán, mất nguồn nước cho mùa sau.
Hộ nhận khoán và cả cộng đồng có vai trò quyết định: không đốt khi trời gió, dọn vật liệu cháy quanh vườn giáp rừng, báo ngay khi thấy khói. Nhiều địa phương tổ chức tổ đội phòng cháy rừng ở thôn, có chòi canh, có dụng cụ dập lửa thô sơ. Khách du lịch đến mùa này cũng cần hiểu: không đốt lửa trại ở nơi không cho phép, không vứt tàn thuốc.
Mùa mưa thì rủi ro khác: sạt lở đất ở những sườn đồi mất rừng, đường đi tuần tra trơn trượt. Người giữ rừng làm việc quanh năm trong điều kiện không dễ, và công việc của họ xứng đáng được ghi nhận hơn.
Người ngoài có thể góp phần giữ rừng thế nào
Với khách du lịch, cách góp phần đơn giản nhất là không mua lâm sản, động vật rừng, mật ong hay cây cảnh không rõ nguồn gốc; không tự ý vào rừng; mang rác ra khỏi vùng hồ; chọn dịch vụ du lịch có trách nhiệm với môi trường.
Với người làm thiện nguyện, các hoạt động trồng cây bản địa, hỗ trợ dụng cụ phòng cháy, hỗ trợ học bổng cho con em hộ giữ rừng, tập huấn sinh kế thay thế như nuôi ong, trồng cây dưới tán đúng quy định, đều có ích nếu được bàn trước với chính quyền xã và chủ rừng. Không nên tự ý mang cây giống ngoại lai vào trồng trong rừng.
Với người muốn sống lâu ở Tà Đùng, việc đầu tiên là tôn trọng ranh giới rừng khi mua đất, làm vườn, xây nhà; tham gia cùng hàng xóm khi có đợt phòng cháy, dọn rác; và nhìn những người giữ rừng như láng giềng làm một việc quan trọng cho cả vùng.
Nhận khoán theo cộng đồng thôn: chia việc, chia tiền thế nào cho công bằng
Luật Lâm nghiệp năm 2017 công nhận cộng đồng dân cư là một loại chủ rừng và là đối tượng nhận khoán. Ở nhiều thôn vùng đệm, thay vì từng hộ nhận một lô riêng, cả thôn hoặc một nhóm hộ cùng nhận một diện tích lớn, lập tổ tuần tra, chia lịch đi rừng theo tuần và cùng chịu trách nhiệm trước chủ rừng. Cách này hợp với nếp sống bon làng của đồng bào, nơi rừng từ lâu được xem là tài sản chung của cộng đồng.
Cái khó nằm ở khâu chia tiền. Nếu chia đều cho mọi hộ, người đi tuần nhiều thấy thiệt; nếu chia theo ngày công, cần sổ ghi chép rõ ràng mà không phải thôn nào cũng làm được. Những thôn làm tốt thường có quy ước bằng văn bản được bàn trong họp thôn: một phần tiền trả theo công tuần tra, một phần để quỹ chung lo dụng cụ phòng cháy, sửa đường đi rừng, hỗ trợ hộ khó khăn. Sổ thu chi được đọc công khai trong các buổi họp.
Với người ngoài, đây là chi tiết đáng hiểu trước khi bàn bất kỳ dự án hỗ trợ nào ở vùng đệm: rừng quanh hồ không phải đất trống chờ người đến làm, mà phần lớn đã có chủ, có người nhận khoán, có quy ước của thôn. Mọi ý tưởng trồng cây, làm du lịch hay nghiên cứu trong rừng đều nên bắt đầu bằng việc hỏi chủ rừng và cộng đồng đang giữ nó.
Câu hỏi thường gặp
Vườn quốc gia Tà Đùng thành lập năm nào?
Vườn quốc gia Tà Đùng được nâng hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng vào năm 2018. Trước đó, khu vực này đã được bảo vệ dưới hình thức khu bảo tồn với hệ rừng kín thường xanh trên núi cao.
Tiền dịch vụ môi trường rừng là gì?
Đây là khoản tiền mà các đơn vị hưởng lợi từ rừng, như nhà máy thủy điện, cơ sở nước sạch, phải trả cho việc rừng giữ đất, điều tiết nước. Tiền được chuyển qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng đến chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng.
Ai được nhận khoán bảo vệ rừng?
Thường là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn sinh sống gần rừng, ưu tiên đồng bào dân tộc thiểu số và hộ khó khăn tại chỗ. Điều kiện cụ thể do chủ rừng và quy định hiện hành đặt ra; người quan tâm nên hỏi chủ rừng hoặc UBND xã.
Có được hái măng, rau rừng trong vườn quốc gia không?
Trong vùng lõi rừng đặc dụng, việc thu hái lâm sản bị hạn chế chặt chẽ và phải theo quy định của ban quản lý. Ở rừng sản xuất hoặc theo thoả thuận với chủ rừng, người dân có thể được thu hái một số lâm sản ngoài gỗ.
Mua đất vườn giáp rừng ở Tà Đùng cần lưu ý gì?
Cần kiểm tra kỹ ranh giới đất với rừng, loại đất ghi trên giấy chứng nhận và quy hoạch. Đất lấn rừng hoặc nằm trong quy hoạch rừng có thể không được công nhận, bị thu hồi và gây khó khăn khi bán nông sản cho kênh xuất khẩu.
Khách du lịch có được vào Vườn quốc gia Tà Đùng không?
Việc tham quan phải theo quy định của ban quản lý vườn quốc gia về tuyến, thời gian và thủ tục. Không tự ý vào vùng lõi, không đốt lửa, không săn bắt hay hái cây. Nên liên hệ ban quản lý hoặc chính quyền địa phương trước khi đi.